Kinh tế Việt Nam: Dần thoát cảnh “ăn bám” tài nguyên

Kinh tế Việt Nam: Dần thoát cảnh “ăn bám” tài nguyên

05/10/2016 3:21 Chiều

(DĐDN) – Tăng trưởng kinh tế đạt 6,40% trong quý III và dự báo sẽ đạt mức tương đương 7% của quý IV năm 2015, trong bối cảnh ngành khai khoáng giảm mạnh, được Tổng cục Thống kê nhìn nhận là dấu hiệu tích cực cho thấy nền kinh tế đang giảm dần lệ thuộc vào việc bán tài nguyên.

Báo cáo kinh tế quý III của Tổng cục Thống kê mới được công bố tuần trước cho thấy rõ xu hướng “tụt dốc” của ngành khai khoáng trong nước.

ks-copy

Nền kinh tế VN đã bắt đầu tăng trưởng tốt lên, dù vẫn thấp, mà không cần dựa vào ngành khai khoáng. Ảnh: Khai thác khoáng sản của Công ty Hoàng Anh, Điện Biên

Khoáng sản đang cạn dần

Nếu như trong quý I năm nay, chỉ số sản xuất ngành khai khoáng vẫn còn tăng trưởng nhẹ được ở mức 0,2%, nhiều người khi đó vẫn còn lạc quan cho rằng đó là vì vào đầu năm có những kỳ nghỉ lễ kéo dài và bị ảnh hưởng bởi tâm lý “tháng giêng là tháng ăn chơi,” thì sang quý II và quý III bóng tối đã gần như bao trùm hết lên tâm lý lạc quan đó. Chỉ số sản xuất ngành khai khoáng trong quý II giảm 5,3% và quý III giảm 6,8%. Tính chung chín tháng đầu năm nay chỉ số này giảm 4,1% so với cùng kỳ năm ngoái. Một năm trước đây, ngành này vẫn còn tăng tới 8,3%.

Ngành khai khoáng sụt giảm mạnh đã góp phần đáng kể khiến cho chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp trong ba quý vừa qua chỉ tăng 7,4% so với 9,9% cùng kỳ năm ngoái, theo báo cáo của Tổng cục Thống kê.

Ông Nguyễn Bích Lâm – Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê, trong cuộc họp báo về tình hình kinh tế xã hội quý III đã nhắc lại rằng tăng trưởng mạnh của ngành khai khoáng trong năm ngoái đã góp phần đáng kể vào sự phục hồi kinh tế năm 2015, còn năm nay thì chính ngành này lại góp phần kéo tăng trưởng kinh tế đi xuống. Sự đối nghịch đó chỉ cách nhau có vài tháng.

Nguyên nhân khiến ngành khai khoáng đang ở đỉnh cao lại rơi nhanh xuống vực sâu như vậy đã được các nhà kinh tế và các chuyên gia trong ngành mổ xẻ nhiều. Đó là do giá các sản phẩm khoáng sản như dầu mỏ, than và quặng sắt đều giảm mạnh trong năm nay. Hơn nữa, về lượng dự trữ khoáng sản Việt Nam cũng không phải là quốc gia giàu tài nguyên cho lắm. Chính vì vậy Chính phủ cũng đã có chính sách hạn chế khai thác và xuất khẩu khoáng sản ra bên ngoài.

Ông Phạm Đình Thúy – Vụ trưởng Vụ Thống kê công nghiệp, Tổng cục Thống kê, trong cuộc họp báo quý II thậm chí còn khẳng định rằng lượng khoáng sản như than hay dầu khí của Việt Nam cũng có hạn và đang đi vào lúc cạn kiệt.

Thoát cảnh bán tài nguyên?

Rõ ràng, khi ngành khai khoáng “tuột dốc” thì tăng trưởng kinh tế của cả nước sẽ bị ảnh hưởng. Và thực tế thì tăng trưởng kinh tế trong quý IV ra sao vẫn còn phụ thuộc vào việc khai thác dầu thô như thế nào.
Ông Hà Quang Tuyến – Vụ trưởng Vụ Hệ thống tài khoản quốc gia thuộc Tổng cục Thống kê, cho biết rằng kinh tế quý IV hoàn toàn có thể đạt được mức tăng trưởng bằng với quý IV năm ngoái, tức là 7,01%, nếu như mức khai thác dầu thô được giữ nguyên ở mức hiện tại. Có nghĩa là nếu khai thác dầu thô giảm, tăng trưởng kinh tế sẽ chậm hơn.

Tuy nhiên, đó là ngắn hạn, là giải pháp trước mắt để đảm bảo tăng trưởng kinh tế sẽ đạt mục tiêu mà Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đề ra trong cuộc họp Chính phủ vừa qua là ở vào khoảng từ 6,3% đến 6,5%.

Nhưng nếu nhìn vào quá trình kinh tế tăng trưởng trong những tháng gần đây, quý III đạt mức 6,40%, thì ông Tuyến lại cho rằng có những tín hiệu rất lạc quan liên quan tới ngành khai khoáng.

“Các chỉ tiêu có liên quan tới sản xuất kinh doanh, như tỷ lệ sử dụng lao động trong khu vực chế biến, chế tạo cao. Qua điều tra xu hướng kinh doanh DN cũng khả quan hơn so với quý trước. Những điều đó đã phá vỡ quan điểm rằng tăng trưởng của chúng ta chỉ dựa vào khai khoáng và bán tài nguyên thiên nhiên” – ông Tuyến nhìn nhận.

Theo ông Tuyến, nền kinh tế đã bắt đầu tăng trưởng tốt lên, dù vẫn thấp, mà không cần dựa vào ngành khai khoáng. Trong thời gian tới ngành khai khoáng sẽ vẫn được dự báo là tiếp tục giảm do chính sách hạn chế của Chính phủ. Và như vậy, công nghiệp chế biến, chế tạo và ngành dịch vụ sẽ đóng vai trò quan trọng hơn.

Nhận định trên không phải là không có cơ sở khi nhìn vào tốc độc tăng trưởng xuất khẩu và nhập khẩu. Nhập khẩu trong quý III đã tăng 1,3% so với cùng kỳ năm ngoái, trong khi nửa đầu năm thì nhập khẩu giảm. Có tới 90% lượng hàng hóa nhập khẩu là nguyên phụ liệu và máy móc phục vụ sản xuất. Còn xuất khẩu thì tăng từ 5,9% nửa đầu năm lên 6,7% tính đến hết tháng 9.

Cách đây ít ngày, ngân hàng HSBC cũng đã công bố báo cáo kinh tế vĩ mô của Việt Nam, trong đó nhấn mạnh chỉ số sản xuất công nghiệp (PMI) của Việt Nam đã tiếp tục tăng trưởng tháng thứ tám liên tiếp, trong bối cảnh một số nước Châu Á và hầu hết các nền kinh tế phương Tây đang phải vật lộn để có mức tăng trưởng. Theo đó, chỉ số PMI của ngành sản xuất đã tăng lên 52,2 điểm từ 51,9 điểm của tháng trước.

Kết quả này báo hiệu sự cải thiện mạnh mẽ sức khỏe của lĩnh vực sản xuất, và là mức cải thiện đáng kể nhất kể từ tháng 5/2015. Các điều kiện kinh doanh đã tốt lên trong suốt mười tháng qua.

Đáng chú ý, nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) cũng tiếp tục chảy đều đặn vào nền kinh tế. Từ đầu năm đến tháng 9, vốn FDI đăng ký mới và tăng thêm đạt 16,43 tỷ USD, trong khi đó vốn giải ngân đạt 11,02 tỷ USD. Dòng vốn FDI chủ yếu đổ vào lĩnh vực sản xuất và chế biến, chiếm khoảng hai phần ba tổng số vốn.

Chuyên gia kinh tế Nguyễn Hữu Trí: Cần có chiếnlược tổng thể tối thiểu 5 năm

nguyen-huu-tri-1-1-copyBài học từ nước Nga cho thấy, nếu dựa quá nhiều vào xuất khẩu dầu thô, nước xuất khẩu sẽ gặp thiệt hại lớn khi giá dầu giảm.

Nhiều ý kiến cho rằng cần tiếp tục chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu mặt hàng xuất khẩu theo hướng giảm tỷ trọng của nhóm sản phẩm thô và sơ chế, nhất là tài nguyên thiên nhiên, tăng nhanh tỷ trọng của nhóm sản phẩm chế biến, chế tạo trong tổng kim ngạch nhập khẩu.

Tuy nhiên, tôi cho rằng, việc tăng nhanh tỷ trọng của nhóm sản phẩm chế biến, chế tạo trong tổng kim ngach xuất khẩu không thể coi là giải pháp tốt trong giai đoạn hiện tại vì sản xuất nhìn chung còn manh mún, công nghệ chế biến, chế tạo lạc hậu, năng suất thấp giá thành cao, chưa vào được thị trường vì khả năng cạnh tranh kém. Muốn thực hiện được việc này cần phải có kế hoạch chiến lược tổng thể, đầu tư vốn, công nghệ, vùng sản xuất chuyên canh, đảm bảo chất lượng sản phẩm từ sản xuất đến bảo quản, chế biến, phải làm thị trường… dự kiến phải có tối thiểu 5 năm nữa.

Về lâu dài Chính phủ và các Bộ, Ngành liên quan cần tiếp tục có những giải pháp tổng thể và đồng bộ hơn để vừa giảm phụ thuộc vào khai thác tài nguyên, vừa giảm lãng phí tài nguyên trong khai thác và hỗ trợ ngành công nghiệp khai khoáng đóng góp hiệu quả hơn trong thu ngân sách nhà nước.

Ông BÙI NGỌC SƠN – Viện kinh tế chính trị thế giới: Tiêu dùng trong nước làđộng lực quan trọng

bui-ngoc-son-copyHiện tại sẽ có 3 động lực chính góp phần thúc đẩy tăng trưởng toàn bộ nền kinh tế trong các tháng còn lại của năm, đó là hoạt động sản xuất – kinh doanh của DN, tái cơ cấu nền kinh tế và tiêu dùng trong nước. Một yếu tố quan trọng là chúng ta phải biết rút kinh nghiệm từ Trung Quốc. Trước đây quốc gia này thường tập trung vào xuất khẩu và coi đây là động lực chính của tăng trưởng kinh tế. Song, trong 3 năm trở lại đây, Trung Quốc đã có những thay đổi, tập trung vào thị trường tiêu dùng trong nước. VN với dân số trên 90 triệu người, nhu cầu tiêu dùng rất lớn, nên khi đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng này cũng sẽ tạo động lực tăng trưởng tốt cho nền kinh tế.

 

Ngọc Linh

>> Kinh tế Việt Nam: Sức cầu nội địa tiếp tục khả quan 

 

Tags :

Bài viết đã chặn phản hồi!

Tin khác đã đăng

Theo bạn, nữ doanh nhân nào có tầm ảnh hưởng nhất?
  • 7.69%
  • 4.62%
  • 6.15%
  • 3.08%
  • 20%
  • 10.77%
  • 1.54%
  • 1.54%
  • 13.85%
  • 20%
  • 6.15%
  • 4.62%