Kinh tế Việt Nam “nhiều lý do để phấn khởi”

Kinh tế Việt Nam “nhiều lý do để phấn khởi”

29/12/2016 4:55 Chiều

(DĐDN) – Đó là nhận định lạc quan của Bộ phận Nghiên cứu HSBC về kinh tế vĩ mô của Việt Nam trong 2016.

Theo HSBC, thời kỳ đầu năm 2016, đợt hạn hán nghiêm trọng nhất trong hơn một thế kỷ qua đã ảnh hưởng đến tình chung của cả nước, nhưng GDP quý III.2016 đạt mức 6,6% so với cùng kỳ năm ngoái đã chứng thực những gì tồi tệ nhất đã được bỏ lại đằng sau. Theo sau đó, những số liệu hoạt động cũng cho thấy trong quý IV.2016, các hoạt động của nền kinh tế đã tốt lên. Tuy nhiên, không giống như lạm phát, các khoản nợ xấu không xuất phát từ các yếu tố tạm thời nên chính vì vậy khó có khả năng giảm xuống nhanh chóng. Điều này cho thấy rằng cải cách tài chính công có thể trở thành một ưu tiên chính sách trong hai năm sắp tới.

Sản xuất công nghiệp: thiên về ngành sản xuất

Trong tháng 11, sản xuất công nghiệp đã tăng 7,4% so với mức 7% của tháng trước. Tăng trưởng hai con số ở ngành chế tạo sản xuất – hiện chiếm 75% tổng sản xuất công nghiệp – đã giúp bù đắp sự sụt giảm nhanh sản lượng của ngành khai thác mỏ và khai thác đá. Mặc dù trong năm 2016 lĩnh vực này thể hiện kém hơn đáng kể so với năm 2015 nhưng Bộ Công Thương đã dự báo tăng trưởng năm 2017 sẽ đạt 8% so với cùng kỳ năm ngoái. Bộ Công Thương cho biết tính toán của họ dựa trên tiền đề nền kinh tế toàn cầu hồi phục trong năm 2017. Từ đó, Bộ Công Thương cũng đã tiên đoán hoạt động sẽ gia tăng mỗi năm khoảng từ 6-7% trong năm 2017. Sức mạnh cụa lĩnh vực sản xuất cũng được lập lại trong kết quả khảo sát chỉ số PMI trong tháng 11.

Chỉ số PMI ngành sản xuất đạt mức tốt nhất trong 18 tháng qua.

Chỉ số PMI ngành sản xuất của Nikkei tháng 11 đã tăng đạt 54 điểm – mức cao nhất trong 18 tháng qua so với mức 51,7 điểm của tháng 10. Kết quả này có được là nhờ đơn đặt hàng mới tăng mạnh – mức tăng mạnh nhất trong 18 tháng và sản lượng nói chung phục hồi mạnh – mức tăng nhanh nhất trong vòng 16 tháng qua. Đơn đặt hàng xuất khẩu mới cũng tăng với tốc độ nhanh nhất. Theo những doanh nghiệp tham gia khảo sát, nhu cầu khách hàng đã cải thiện ở cả trong lẫn ngoài nước.

Cùng với sự gia tăng lượng được đặt hàng, các doanh nghiệp cũng đã tuyển thêm nhiều nhân công và gia tăng hoạt động mua hàng. Nhân công ngành sản xuất hiện đều tăng trong mỗi tám tháng qua khiến triển vọng của ngành rất sáng sủa. Niềm tin của ngành sản xuất cũng được phản ánh trong nỗ lực của các doanh nghiệp để tích trữ hàng tồn kho, ở cả các hàng tiền sản xuất và thành phẩm. Về mặt giá cả, áp lực lạm phát đã tăng cường suốt tháng qua. Các nhà sản xuất đã cho biết giá cả đầu vào leo thang rất nhanh, nhưng họ cũng đã chuyển mức tăng giá này vào giá xuất xưởng vốn cũng tăng nhanh không kém – mức tăng nhanh nhất trong vòng 5,5 năm qua.

Lạm phát cũng nên cẩn trọng

Một vấn đề lo ngại chính trong vài tháng gần đây có thể là áp lực lạm phát quay lại. Và vì vậy chúng tôi cũng lưu ý hơn về lạm phát. Trong tháng 11, lạm phát đã tăng từ 4,1% trong tháng 10 lên 4,5% so với cùng kỳ năm ngoái. Nhưng lạm phát tăng trong tháng này chủ yếu là do hai yếu tố đột xuất như chi phí giáo dục và chăm sóc sức khỏe cao hơn. Thực tế, hai yếu tố này đã đóng góp 3,2 phần trăm điểm cho lạm phát toàn phần mà hiện đang chiếm hơn 70% việc tăng trong các loại giá. Điều này ẩn ý rằng khi loại bỏ sự ảnh hưởng của những “yếu tố đột xuất”, lạm phát có vẻ trở nên nhẹ nhàng khiến những ai quan tâm thở phào nhẹ nhõm phần nào.

Tăng trưởng tín dụng: cần chính sách đặc biệt

Tăng trưởng tín dụng vẫn mạnh trong suốt năm qua. Vào tháng 9, tổng dư nơ tín dụng đã thay đổi chút ít so với tháng trước đó nhưng dù sao vẫn còn nằm ở mức 16,8% so với năm ngoái. Tuy nhiên, nợ xấu vẫn nhiều hơn nợ tổng thể và điều này tiếp tục đặt ra những thách thức cho các nhà quản lý. Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ (tỷ lệ NPL) đã giảm dần khi Công ty Quản lý Tài sản Việt Nam đã mua các tài sản yếu kém từ các ngân hàng. Tuy nhiên những nguy cơ tín dụng tiềm ẩn và suy giảm vốn liên kết vẫn chưa được loại bỏ hoàn toàn. Chính vì vậy, việc giải quyết nợ xấu kéo dài cần có những trọng tâm chính sách đặc biệt và có thể thêm vào gánh nặng nợ công.

Nợ công: cần cải tổ

Đối với trường hợp Việt Nam, nợ công đang tăng lên không hẳn là một điều xấu: trong bối cảnh tăng trưởng mạnh, chắc chắn cần thiết phải tiếp tục đầu tư vào cơ sở hạ tầng để duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế mạnh. Tuy nhiên, trong thời gian dài, có thể phải đảm bảo việc điều điều tiết tăng trưởng nợ.

Việc hiện đại hóa và tăng trưởng ngoạn mục của Việt Nam có được là nhờ sự gia tăng nhanh hơn về nợ công của quốc gia. Bộ trưởng Tài chính Đinh Tiến Dũng đã được trích dẫn khi nói “nợ công trong năm năm qua đã tăng lên trung bình 18,4% và nhanh hơn gấp ba lần so với tốc độ tăng trưởng kinh tế “.

Theo Ủy ban Tài chính và Ngân sách, tất cả các chỉ số nợ công của Việt Nam, bao gồm cả tỷ lệ công nợ trên GDP, thu ngân sách, tỷ lệ dịch vụ nợ trên GDP, cũng như doanh thu của Chính phủ, tất cả được thiết lập để tiếp cận hoặc vượt quá ngưỡng an toàn của mình . Ví dụ, tỷ lệ dịch vụ nợ trên doanh thu Chính phủ đã đạt 27,4% trong năm 2015, vượt quá giới hạn cho phép chỉ ở mức 25%.

Trong bối cảnh này, Quốc hội Việt Nam đã thông qua một nghị quyết Chính phủ tăng giới hạn trên của nợ Chính phủ lên 54% GDP so với mức 50% trước đây. Quốc hội cũng đã đặt mục tiêu doanh thu đạt 6.846 ngàn tỷ đồng (tương đương 306,51 tỷ USD) cho năm năm tới, trong khi không thay đổi trần nợ công và nợ nước ngoài ở mức tương ứng 65% và 50% GDP.

Việc sửa đổi này xuất phát từ nguồn thu Nhà nước đang giảm, đặc biệt là do giá dầu thô thấp. Thống kê chính thức cho thấy doanh thu từ dầu chiếm 30% ngân sách quốc gia Việt Nam trong năm 2005, 20% vào năm 2010, và chỉ 10% trong năm 2015.

Khi nền kinh tế tự thấy mình gần với các giới hạn luật định của các biện pháp khác nhau về nợ, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã cam kết “tái cơ cấu” nợ công với sự giám sát chặt chẽ hơn các dự án được tài trợ bởi Bộ Tài Chính để đảm bảo rằng những dự án này thật sự hiệu quả và được sử dụng đúng mục đích. Chính phủ cũng sẽ hạn chế việc cấp bảo lãnh vay vốn, và giám sát chặt chẽ các khoản nợ phát sinh do chính quyền tỉnh và thành phố. Hơn nữa, Chính phủ cũng sẽ cố gắng giảm chi phí cho vay, điều chỉnh lại luật về ngân sách Nhà nước và quản lý nợ công, và xem xét những chiến lược và chương trình để quản lý nợ công trong trung hạn.

Tái cơ cấu tài chính công là một trong những cải cách quan trọng mà Chính phủ cần phải thực hiện khi nền kinh tế chủ yếu dựa vào chi tiêu công để thúc đẩy phát triển.

Ngọc Hương

>> Triển vọng kinh tế Việt Nam 2017

Tags :

Bài viết đã chặn phản hồi!

Tin khác đã đăng