(DĐDN) - Việt Nam là một quốc gia biển lớn trong vùng Biển Đông – nơi có vị trí địa chính trị và địa kinh tế trọng yếu trên bình đồ chiến lược quốc tế và khu vực. Cho nên, phát triển kinh tế biển hiệu quả và bền vững có ý nghĩa vô cùng quan trọng cho phát triển kinh tế đất nước, tiếp thêm sức mạnh cho dân tộc ta trong cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo trước mắt và lâu dài.

kinhtebienvietnam6a

Tuy nhiên, hiện nay nhận thức về vị trí, vai trò của kinh tế biển chưa xứng tầm, thậm chí còn chưa rõ ràng ngay cả đối với một số bộ, ngành và địa phương ven biển. Vì thế, không ít bộ, ngành và địa phương liên quan thiếu chủ động và lúng túng trong việc cụ thể hóa một cách sáng tạo Chiến lược biển Việt Nam thành các kế hoạch hành động cụ thể phù hợp với thực tế của đơn vị.

Tư duy khai thác nặng hơn tư duy phát triển

Phát triển các lĩnh vực kinh tế biển đòi hỏi khả năng phối hợp liên ngành, xuất đầu tư lớn và cách thức tổ chức chặt chẽ nhưng đây lại là điểm yếu cơ bản bộc lộ trong quá trình triển khai vừa qua. Thành thử vẫn ngành nào biết ngành nấy. Độ mở của cơ chế, luật pháp và chính sách còn hạn chế, thủ tục rườm rà, nên khi ban hành vẫn chậm đi vào thực tế và ít tác động về mặt xã hội. Không ít kết quả thực thi luật pháp và chính sách chỉ trong bộ, ngành và cơ quan quản lý ở địa phương biết, doanh nghiệp và người dân có vẻ vẫn đứng ngoài cuộc.

Phát triển kinh tế biển, đảo chưa tương xứng với tiềm năng, chưa thực sự chú trọng đến hiệu quả và tính bền vững, tiến độ các dự án chậm, nên sức cạnh tranh của các sản phẩm biển còn yếu. Đầu tư cho phát triển các ngành kinh tế biển còn dàn trải, quản lý và kiểm soát phát triển chưa hiệu quả. Ngành Hàng hải dự kiến từ sau năm 2020 sẽ dẫn đầu trên các ngành kinh tế biển khác (dầu khí, thủy sản, du lịch,…), nhưng thực tế đang diễn ra hoàn toàn khác.

Tư duy khai thác còn nặng hơn tư duy phát triển, nên hoạt động khai thác các dạng tài nguyên vật chất vẫn được ưu tiên, các giá trị dịch vụ của các hệ thống tài nguyên biển và giá trị không gian của các vùng/khu vực biển chưa được chú trọng đúng mức. Chưa có mô hình phát triển mang tính đột phá đối với một số khu vực ven biển và đảo ven bờ vốn được xem là rất giàu tiềm năng. Ngoài ra, khoảng 2.800 đảo nhỏ hoang dã, hoang sơ – cơ sở cho phát triển kinh tế dựa vào bảo tồn (conservation-based economy), vẫn chưa được sử dụng theo đúng nghĩa của nó.

Tiềm năng phát triển năng lượng biển, năng lượng gió và mặt trời chưa được khai thác và nhân rộng; nghề cá giải trí đã được Chính phủ khuyến khích trong Chiến lược phát triển ngành thủy sản đến năm 2020 (phê duyệt 2013) nhưng gần như chưa có phương án triển khai cụ thể. Kinh tế biển xanh đang là hướng ưu tiên của thế giới và đã được ghi trong Chiến lược (2013) và Kế hoạch hành động quốc gia (2014) về tăng trưởng xanh, nhưng cũng đang trong tình trạng tương tự nghề cá giải trí nói trên. Thành thử, nguồn vốn tự nhiên cho kinh tế biển xanh, cảnh quan biển không được bảo toàn và tiếp tục suy giảm chất lượng.

Cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển kinh tế biển tuy có được cải thiện, nhưng chưa đồng bộ, chưa thực sự góp phần hình thành mối liên kết giữa các vùng, miền và các cực phát triển (đô thị, khu kinh tế), giữa đất liền và biển, đảo. Cho nên, động lực lan tỏa và tương tác phát triển giữa các cực phát triển và các vùng lãnh thổ còn hạn chế. Cách tiếp cận nóng trong khai thác tài nguyên biển và bệnh hội chứng trong phát triển kinh tế biển đang là những rào cản phát triển bền vững biển, đảo.

Khoa học, công nghệ biển chưa thực sự phát triển, đội ngũ người làm khoa học, công nghệ thiếu và yếu, chưa chú trọng phát triển công nghệ biển/đại dương. Thiếu phương tiện điều tra, nghiên cứu biển tiến tiến và một cơ sở dữ liệu biển quốc gia với các tài liệu điều tra cơ bản biển đủ độ tin cậy. Cho nên, vai trò và tác động của khoa học và công nghệ đến các kế hoạch phát triển kinh tế biển còn nhiều hạn chế.

Kinh tế biển phải được phát triển hiệu quả và bền vững, hướng tới một nền kinh tế biển xanh.Ngày càng nhiều chất thải không qua xử lý (40-70%) từ các lưu vực sông và vùng ven biển đổ ra biển, một số khu biển ven bờ bị ô nhiễm, hiện tượng thuỷ triều đỏ xuất hiện ngày càng nhiều với quy mô rộng. Tác động mạnh mẽ của biến đổi khí hậu và nước biển dâng đang hiện hữu, nhưng khả năng chống chịu của các vùng ven biển và các cộng đồng dân cư ven biển và trên hải đảo không được cải thiện. Đời sống của người dân ven biển, trên đảo còn tiếp tục bị đe dọa và nghèo khó. Các địa phương ven biển vẫn phải đối phó thụ động, chưa thể ứng phó chủ động trước tác động của thiên tai mà trận mưa hiếm có trong tháng 7 vừa qua ở Quảng Ninh là một ví dụ.

Thay đổi “triết lý phát triển” kinh tế biển

Chiến lược biển Việt Nam 2020 đã chỉ rõ vai trò và vị trí của kinh tế biển trong việc bảo đảm an ninh, chủ quyền biển, đảo; trong việc bảo đảm an sinh xã hội và sinh kế của người dân ven biển, trên đảo; trong việc bảo vệ môi trường; trong việc bảo tồn tài nguyên biển, đảo; và trong việc tổ chức lại không gian biển để sinh tồn và phát triển thông qua xây dựng các khu kinh tế biển (ven biển và trên đảo). Đảng và Nhà nước ta cũng đã đưa ra chủ trương và các nguyên tắc chỉ đạo giải quyết hòa bình các tranh chấp chủ quyền biển, đảo trên Biển Đông để tạo điều kiện cho kinh tế biển phát triển. Điều này một lần nữa được thể hiện trong Luật biển Việt Nam (2012).

Quá trình cụ thể hóa và điều chỉnh chiến lược trong lĩnh vực kinh tế biển, cần tiếp tục khẳng định: kinh tế biển phải được phát triển hiệu quả và bền vững, hướng tới một nền kinh tế biển xanh (blue economy) dựa trên một thể chế kinh tế mở, công nghệ ở đẳng cấp cao, chuyển từ ưu tiên khai thác với công nghệ lạc hậu sang phát triển công nghiệp biển, đại dương với trình độ công nghệ tiên tiến để khai thác hiệu quả và tiết kiệm tài nguyên, bảo vệ môi trường; vươn ra biển xa hơn và xuống sâu hơn, tích cực chuẩn bị điều kiện để tham gia khai thác đại dương theo triết lý “cái gì của ta chắc chắn của ta, cái gì chưa rõ phải làm cho rõ để khi chia ta không thiệt, còn cái gì chung thì càng ra khai thác sớm càng tốt”; tăng cường vai trò của người dân và giúp họ bám biển, bám đảo để thực hiện chủ quyền dân sự trên các vùng biển, đảo của Tổ quốc.

PGS.TS Nguyễn Chu Hồi

Đại học Quốc gia Hà Nôi,

Nguyên Tổng Cục trưởng Tổng cục Biển và Hải Đảo,

Bộ TN- MT