Hợp đồng liên doanh có là cơ sở pháp lý để huy động vốn...?

Như DĐDN đã thông tin, mặc dù tiểu dự án 12A Bình Trưng Đông, Quận 2, TP HCM chưa được triển khai và đã bị thu hồi, nhưng Công ty cổ phần Đầu tư Thương mại Dịch vụ Đất Lành (Công ty Đất Lành) vẫn thông qua một số đối tượng môi giới bất động sản để chiếm dụng nhiều tỷ đồng của các khách hàng dưới chiêu trò “Hợp đồng góp vốn”.

Trong hợp đồng góp vốn mà Công ty Đất Lành đã ký với khách hàng có viện dẫn:“Căn cứ vào hợp đồng Liên doanh hợp tác đầu tư số 144/HĐLD ngày 11/03/2003 giữa Công ty CP Xây dựng số 14 và Công ty TNHH Đất Lành (nay là Công ty Cổ phần đầu tư Thương mại Dịch vụ Đất Lành)" để làm căn cứ pháp lý và tạo niềm tin với khách hàng.

Ông Phạm Cường - Phó Tổng Giám đốc Công ty CP xây dựng số 14 trong buổi trao đổi với phóng viên ngày 25/12/2017.

Ông Phạm Phương - Phó Tổng Giám đốc Công ty CP xây dựng số 14 trong buổi trao đổi với phóng viên ngày 25/12/2017.

Trao đổi với phóng viên DĐDN về viện dẫn này của Công ty Đất Lành, ông Phạm Phương - Phó Tổng giám đốc Công ty CP Xây dựng số 14 (Chủ đầu tư dự án) cho biết: Căn cứ theo hợp đồng số 144/HĐLD ngày 11/03/2003, hợp đồng liên doanh hợp tác đầu tư giữa Công ty CP Xây dựng số 14 và Công ty Đất Lành tại dự án khu dân cư Bình Trưng Đông, Quận 2 thì: Công ty CP Xây dựng số 14 là pháp nhân đại diện của liên doanh để thực hiện mọi thủ tục pháp lý.

Khi kết thúc đầu tư, bên A (Công ty xây dựng 14) sẽ ủy quyền qua công chứng Nhà nước cho bên B (Công ty Đất Lành) được chủ động khai thác kinh doanh nhà ở của tiểu dự án 12A. Việc khai thác kinh doanh, bên B phải tuân thủ theo đúng nội dung quyết định số 204/HĐQT-QĐ ngày 12/12/2002 của Hội đồng quản trị Tổng Công ty xây dựng số 1 về việc phê duyệt báo cáo nghiên cứu khả thi và quyết định đầu tư dự án  xây dựng khu dân cư Bình Trưng Đông, Cát Lái, Quận 2, TP HCM.

Trang 2 của Hợp đồng Liên doanh số 144/HĐLD ngày 11/03/2003 có quy định khi kết thức đầu tư Bên A sẽ ủy quyền (qua công chứng Nhà nước) cho bên B được chủ động khai thác nhà ở trên khu đất 12A.

Trang 2 của Hợp đồng Liên doanh số 144/HĐLD ngày 11/03/2003 có quy định khi kết thúc đầu tư, Bên A sẽ ủy quyền (qua công chứng Nhà nước) cho bên B được chủ động khai thác nhà ở trên khu đất 12A.

Do đó, việc Công ty Đất Lành dùng hợp đồng số: 144/HĐLD ngày 11/03/2003  làm căn cứ để huy động vốn thông qua hợp đồng góp vốn với khách hàng là sai quy định. Trên thực tế, dự án này chưa được triển khai vì công tác GPMB chưa hoàn tất, bên cạnh đó hạ tầng kết nối xung quanh cũng chưa được thực hiện, do đó chủ đầu tư chưa nhận được mặt bằng đất sạch để triển khai dự án và dẫn đến việc chậm tiến độ…” ông Phương nhấn mạnh.

Ông Vũ Anh Cường phải đối diện với sự thật...

Ông Phương cho biết thêm, Công ty CP Xây dựng số 14 khẳng định là không có bất cứ một ủy quyền nào cho Công ty đất Lành thực hiện nhiệm vụ góp vốn nêu trên. Và theo quy định, Công ty Đất Lành chỉ được phép huy động vốn: “Khi Công ty xây dựng 14 kết thúc đầu tư, làm ủy quyền qua công chứng Nhà nước cho Công ty Đất Lành thì Công ty Đất lành mới được phép khai thác kinh doanh nhà ở trên khu đất 12 A”. Vì vậy, hợp động góp vốn mà Công ty Đất Lành thực hiện với khách hàng là vô hiệu, do đó, tất cả những gì mà Công ty Đất Lành cam kết trong hợp đồng với khách hàng thì phải trả lại cho khách hàng, ngoài ra còn phải đền bù thiệt hại theo lãi suất ngân hàng trong thời gian giữ tiền của khách hàng mà không thực hiện đúng cam kết. Công ty Đất Lành (cụ thể là ông Vũ Anh Cường, người đại diện theo pháp luật)  không thể trốn tránh trách nhiệm mà phải đối diện với sự thật để giải quyết cho khách hàng một cách thỏa đáng để giữ được uy tín và niềm tin cho khách hàng – ông Phương nói.

Phóng viên cũng đã liên lạc với ông Vũ Anh Cường - Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Đầu tư Thương mại Dịch vụ Đất Lành và được ông Cường cho biết sẽ cử Luật sư để trao đổi các nội dung có liên quan. Tuy nhiên cho đến thời điểm hiện tại, phóng viên chưa nhận được thông tin từ Công ty Đất Lành.

Vậy hành vi huy động vốn trái phép của Công ty Đất lành có phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 139 Bộ Luật hình sự, quy định về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản,...?

Báo Diễn đàn Doanh nghiệp phản ánh tiếp tới bạn đọc trong thời gian tới.