Đề án này nhằm xây dựng và phát triển các vùng chuyên canh quy mô lớn theo hình thức trang trại, gia trại, khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm.

Đề án cũng gắn kết sản xuất nông nghiệp với công nghiệp chế biến, bảo quản và tiêu thụ sản phẩm nhằm nâng cao thu nhập, cải thiện mức sống cho cư dân nông thôn.

Nông nghiệp – một trong những thế mạnh

Nằm ở trung tâm Đồng bằng Bắc Bộ, gần thủ đô Hà Nội, Hưng Yên là một trong 8 tỉnh, thành phố thuộc vùng Kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, nằm trên 2 hành lang kinh tế Côn Minh - Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng và Nam Ninh - Lạng Sơn - Hà Nội - Hải Phòng. Vị trí địa lý khá thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh nói chung, nông nghiệp nông thôn nói riêng.

Đồng chí Nguyễn Văn Doanh – Tỉnh uỷ viên, Giám đốc Sở

Đồng chí Nguyễn Văn Doanh – Tỉnh uỷ viên, Giám đốc Sở

Ông Nguyễn Văn Doanh - Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn nhận định: Vùng Kinh tế trọng điểm Bắc Bộ trong đó có Thủ đô Hà Nội là thị trường nông thủy sản tiêu thụ với số lượng lớn nhất Việt Nam, đặc biệt là nông thủy sản tươi sống. Điều đặc biệt quan trọng là do cự ly ngắn nên cước phí vận chuyển thấp, tỷ lệ sản phẩm bị hao hụt cũng giảm đáng kể, đó là lợi thế cạnh tranh của nông nghiệp Hưng Yên.

Kinh tế nông nghiệp của Hưng Yên còn có lợi thế là tận dụng được vốn và hợp đồng, hợp tác liên doanh, liên kết đầu tư sản xuất và tiêu thụ nông sản hàng hóa. Xét về góc độ tận dụng lợi thế ở vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc và tiếp giáp với Thủ đô Hà Nội, là nơi có nhiều nhà đầu tư, nhà phân phối các hàng hóa nông sản; trên địa bàn có nhiều hệ thống cơ sở hạ tầng như: giao thông, thuỷ lợi, điện, thông tin liên lạc ... tương đối phát triển, bước đầu đáp ứng cho yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội.

Đất đai của Hưng Yên bằng phẳng, mầu mỡ, điều kiện khí hậu, thời tiết tương đối thuận lợi, phù hợp với nhiều loại cây trồng cho năng suất cao, nhất là những cây đặc sản, cây có giá trị kinh tế cao. Những điều này giúp ngành nông nghiệp của tỉnh tạo ra khối lượng sản phẩm chất lượng cao phục vụ trước hết là cho thị trường Hà Nội và các tỉnh thành trong khu vực.


Mô hình trồng rau an toàn trong nhà lưới của Công ty CP rau củ quả Việt - Nhật (xã Trung Nghĩa, TP Hưng Yên)

Mô hình trồng rau an toàn trong nhà lưới của Công ty CP rau củ quả Việt - Nhật (xã Trung Nghĩa, TP Hưng Yên)

Người nông dân Hưng Yên lại nằm trong khu vực có mặt bằng dân trí khá so với một số vùng trong cả nước, có truyền thống cách  mạng, cần cù. Một bộ phận đáng kể có trình độ tập quán tiến bộ, năng động, nhạy bén trong tổ chức sản xuất kinh doanh, hoà nhập nhanh với cơ chế thị trường.

Cụ thể hóa những lợi thế này, đưa nông nghiệp Hưng Yên phát triển nhanh, bền vững, theo hướng hiện đại hóa không thể thiếu những cơ chế chính sách từ phía nhà quản lý. Thực hiện chủ trương tái cơ cấu ngành nông nghiệp của Chính phủ, một loạt những cơ chế, chính sách hỗ trợ tái cơ cấu đã được Hưng Yên ban hành.

Khi nhà nước kiến tạo phát triển

Liên tục trong các năm 2014-2017, một loạt những cơ chế, chính sách hỗ trợ tái cơ cấu nông nghiệp đã được Hưng Yên đưa vào thực tiễn. Trong đó phải kể tới: Chương trình phát triển nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, giá trị gia tăng cao, bền vững gắn với xây dựng nông thôn mới tỉnh Hưng Yên giai đoạn 2016-2020, định hướng đến năm 2030; Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp; Đề án xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016-2020; Đề án Xây dựng và khuyến khích phát triển mô hình chuỗi sản xuất, tiêu thụ nông sản (rau, quả, thịt, cá) đảm bảo an toàn thực phẩm giai đoạn 2016-2020;....

Từ những chủ trương, chính sách hỗ trợ như vậy, ngành nông nghiệp Hưng Yên đã có tốc độ tăng trưởng GTSX 2,25%/năm  (giai đoạn 2011-2016). Dự kiến năm 2017, tổng giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản ước đạt 11.867,2 tỷ đồng, tăng 2,65% so với cùng kỳ năm 2016. Cơ cấu thời vụ, giống cây trồng được chuyển theo hướng tăng năng suất, chất lượng, hiệu quả. 

Tính đến nay, Hưng Yên đã chuyển đổi khoảng 7.559ha đất trồng lúa hiệu quả thấp sang trồng cây hàng năm kết hợp nuôi trồng thủy sản với hiệu quả kinh tế cao hơn 3-5 lần. Cũng từ đây 92 vùng sản xuất nông nghiệp hàng hóa tập trung đã được hình thành, kinh tế vùng bãi được quan tâm phát triển.

Cùng với đó là việc ứng dụng KHKT tiên tiến vào sản xuất nông nghiệp đã góp phần nâng giá trị canh tác lên 162,5 triệu/ha năm 2016. Trong khi đó, chăn nuôi nhỏ lẻ hộ gia đình đã giảm dần, tỷ lệ đàn lợn nạc hóa trên 80%, sind hóa đàn bò 100% (bò lai brahman đạt 38%)... Kinh tế hợp tác tại tỉnh phát triển đa dạng cả về hình thức và quy mô với 865 mô hình kinh tế trang trại, 178 HTX nông nghiệp, 1.900 tổ hợp tác và 49 làng nghề.

Kinh tế nông nghiệp phát triển cũng là tiền đề giúp Hưng Yên thực hiện thành công Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới. Riêng giai đoạn từ năm 2011 đến tháng 3/2017, đầu từ cho sản xuất nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới đạt khoảng 34,1 nghìn tỷ đồng. Chương trình đã đem nước sạch, vệ sinh môi trường về với khu vực nông thôn, giúp nâng cao cuộc sống và cải thiện thu nhập của người nông dân (đạt 2,56 triệu đồng/người/tháng). Đến 20/9/2017, toàn tỉnh có 72 xã cơ bản đạt 19 tiêu chí, trong đó 60 xã được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới (đạt 41,37%); bình quân toàn tỉnh đạt 17,2 tiêu chí/xã.

Trong chiến lược hiện đại hóa ngành nông nghiệp tỉnh nhà, ông Nguyễn Văn Doanh - Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh cho biết: “Chúng tôi sẽ mạnh mẽ cải cách thủ tục hành chính, hỗ trợ tốt nhất cho doanh nghiệp, người dân trên địa bàn nông thôn đẩy mạnh các hoạt động sản xuất kinh doanh”.

Trách nhiệm người cán bộ được nâng cao, đường dây nóng được thiết lập và cả việc ứng dụng công nghệ thông tin trong cải cách TTHC, Hưng Yên đã và đang hỗ trợ tốt nhất cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp.