Hết “cửa” cho điện than

Hết “cửa” cho điện than

09/01/2017 5:00 Sáng

(DĐDN)- Mặc dù Việt Nam vẫn phải đối mặt với nguy cơ thiếu điện, nhưng thông điệp chính thức từ Chính phủ cho thấy những dự án nhiệt điện than có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường cao sẽ không có “cửa” để tồn tại nữa.

Tại Hội nghị tổng kết công tác năm 2016 và triển khai nhiệm vụ năm 2017 của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) ngày 3/1 vừa qua, người đứng đầu Chính phủ, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã nhấn mạnh sẽ không sản xuất điện với mọi giá để ảnh hưởng đến đời sống nhân dân vùng có nhà máy điện than.

Thiệt hại 15 tỷ USD mỗi năm

Câu chuyện về nguy cơ ô nhiễm từ các nhà máy nhiệt điện than đã nóng lên trong thời gian gần đây, đặc biệt sau khi tình trạng ô nhiễm tại các nhà máy nhiệt điện than Vĩnh Tân (Bình Thuận) và Duyên Hải (Trà Vinh) được nhiều người dân địa phương phản ánh. Tuy nhiên, đây là lần đầu tiên người đứng đầu Chính phủ đưa ra thông điệp mạnh mẽ về việc phải bảo vệ môi trường trước nguy cơ từ các nhà máy nhiệt điện than. Điều đó cũng có thể hiểu rằng những dự án nào không đáp ứng được tiêu chuẩn môi trường sẽ có thể bị hủy bỏ.

Hiện cả nước hiện có 20 nhà máy nhiệt điện than đang vận hành với tổng công suất đặt máy 13.110 MW, tiêu thụ khoảng 45 triệu tấn than mỗi năm và thải ra hơn 15.700 triệu tấn tro xỉ, thạch cao mỗi năm. Dự kiến tới năm 2020, có thêm 12 dự án nhiệt điện than được đưa vào hoạt động và tổng công suất lắp đặt là 24.370 MW. Đến năm 2030, số nhà máy nhiệt điện than mới được đưa vào hoạt động có thể tăng lên con số 40. Số lượng các nhà máy nhiệt điện than này sẽ thải ra môi trường một lượng rất lớn tro xỉ, và tiêu thụ một lượng lớn nước để làm mát trong quá trình sản xuất điện.

Và tất nhiên, số lượng các nhà máy nhiệt điện than được xây dựng càng lớn, thì nguy cơ gây ô nhiễm môi trường càng cao. Điều này đã được chính Bộ Công thương khẳng định khi đưa ra danh sách các dự án công nghiệp có nguy cơ gây ô nhiễm cao, trong đó một nửa danh sách đó là tên của các dự án nhiệt điện.

Báo cáo tổng hợp về tác động môi trường và xã hội của than và nhà máy nhiệt điện than tại Việt Nam của Liên minh Năng lượng bền vững Việt Nam (VSEA) chỉ ra rằng các nhà máy Hải Phòng I&II, Quảng Ninh, Thái Bình I&II, Mạo Khê, Vĩnh Tân II, Vũng Áng I &II, và Duyên Hải I đang là nguồn gây ô nhiễm không khí, nước và ảnh hưởng tới sinh kế của người dân địa phương.

Tại Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam (VBF) thường niên 2016 vừa tổ chức tại Hà Nội tháng trước, nhóm công tác năng lượng của Diễn đàn đã đưa ra một con số giật mình dựa theo tính toán của Quỹ Tiền tệ Quốc tế, cho thấy tác hại của các dự án nhiệt điện than. Theo đó, nhóm này ước tính chi phí sức khỏe và các tác động đến môi trường của các kế hoạch phát triển năng lượng hiện tại dựa vào than đá tại Việt Nam có thể đạt mức 15 tỷ USD mỗi năm vào năm 2030.

Và lời giải tốt nhất

Trước những thiệt hại to lớn mà nhiệt điện than gây ra như vậy, VSEA thậm chí còn đề xuất Chính phủ dừng các dự án nhiệt điện than trong quy hoạch chưa xây dựng để xem xét kỹ lưỡng hiệu quả lợi ích và tác động, tổn thất đối với toàn xã hội và nền kinh tế. Nhiều quốc gia trên thế giới cũng đã có chủ trương dừng các dự án nhiệt điện than để bảo vệ môi trường. Ví dụ như Hàn Quốc, tới năm 2025 quốc gia này sẽ đóng cửa 10 nhà máy nhiệt điện than vì lý do môi trường.

Tuy nhiên, nếu dừng các dự án nhiệt điện than, thì nguồn cung điện thiếu hụt sẽ được bù đắp ra sao. Việc Quốc hội và Chính phủ quyết định dừng xây dựng hai nhà máy điện hạt nhân tại Ninh Thuận, có tổng công suất 4.000 MW, đã phần nào gây ra sự thiếu hụt điện trong tương lai. Bởi quy hoạch điện VII tính tới năm 2030 đã bao gồm cả hai nhà máy này. Thực tế thì ngay vào thời điểm hiện tại, do tốc độ xây dựng các nhà máy nhiệt điện than bị chậm, khu vực miền Nam luôn phải đối mặt với nguy cơ thiếu điện. Vì vậy, việc loại bỏ các nhà máy nhiệt điện than sẽ là một vấn đề hóc búa chưa thể thực hiện ngay trong một sớm một chiều.

Cách bền vững nhất đang được các quốc gia phát triển thực hiện, và cũng được nhóm công tác năng lượng tại VBF kiến nghị là “khẩn trương thực hiện đầu tư tư nhân vào năng lượng sạch sau một thập kỷ hành động chậm trễ”. Trong đó, Chính phủ cần nhanh chóng phê duyệt các chính sách ưu đãi và khuyến khích cũng như mức giá mua điện để các dự án năng lượng tái tạo được đầu tư. Chỉ như vậy, nguy cơ gây ô nhiễm môi trường từ các dự án nhiệt điện than mới bị loại bỏ.

Chuyên gia kinh tế Nguyễn Hữu Trí:VN đi ngược xu hướng

Trong bối cảnh nhiều quốc gia đang giảm đáng kể nhiệt điện than vào sơ đồ cấp điện thì Việt Nam lại đang đi ngược lại với xu hướng này. Chính vì vậy cần phải nghiên cứu lại quy hoạch phát triển nhiệt điện than. Trước mắt cần xem lại chất lượng không khí tại các nhà máy điện, công khai mức phát thải của nhà máy hàng năm.

Trên thế giới, nhiều quốc gia đang đóng cửa dần các nhà máy nhiệt điện đốt than để tránh tàn phá môi trường. Do đó, mỗi quốc giá cần có đánh giá chuẩn mực từ việc khai thác than và nhiều nước đang phát triển các nguồn năng lượng khác để thay thế.
TS Nguyễn Minh Hiến – nguyên Viện trưởng Viện năng lượng VN:Không thể chối bỏ hoàn toàn điện than

Nếu các nhà máy nhiệt điện than trong nước kiểm soát chặt chẽ được công nghệ ngay từ khi thi công thì việc phát triển các nhà máy nhiệt điện vừa đáp ứng được nhu cầu dùng điện cũng như bảo vệ môi trường.

Chúng ta không thể chối bỏ hoàn toàn nhiệt điện than, song cũng không thể không xây dựng cơ chế phát triển năng lượng tái tạo. Việc này cần có chiến lược cụ thể, tính toán khả năng chịu đựng của môi trường với nhiệt điện than để lên kế hoạch giảm từng bước; đầu tư vốn và học hỏi kinh nghiệm nước ngoài để triển khai năng lượng tái tạo có hiệu quả…

Lưu Vân, Mai Thanh ghi

 Ninh Kiều 

Tags :

Bài viết đã chặn phản hồi!

Tin khác đã đăng