Theo ông Hiếu, việc Hãng phim Truyện Việt Nam (VFS) được định giá thương hiệu 0 đồng bắt nguồn từ những vấn đề bất cập trong định giá thương hiệu DN khi cổ phần hóa.

- Vậy với việc cho một DN không liên quan đến lĩnh vực điện ảnh đứng ra làm chủ có hợp lý, thưa ông?

Nếu là một DN mà mua một DN khác họ hoàn toàn không biết gì về DN mà mình mua hay không có một kinh nghiệm về điều hành và quản lý một DN mình mua là một rủi ro rất lớn.

Tôi cho rằng đây là điều bất hợp lý. Nhưng, trong những trường hợp cụ thể chúng ta cũng cần phải biết rằng hai DN đó có mối quan hệ, liên quan nào đến nhau hay không? Nhiều khi các DN có mối liên quan về mặt thương mại, về mặt kinh tế, về mặt tài chính thậm chí về mặt xã hội và có thể bổ túc cho nhau. Thành ra việc một Cty ở ngoài ngành mua một Cty khác thì trên nguyên tắc những Cty làm chủ họ phải có hiểu biết trong lĩnh vực hoạt động của Cty mà họ mua. Còn nếu mua một Cty hoàn toàn không thuộc lĩnh vực am hiểu thì là điều bất hợp lý.

- Đáng nói, “thương hiệu” của VFS bị tính giá trị bằng 0, thưa ông?

Trong tất cả các thương vụ M&A Cty thì một trong những giá trị của các Cty được mua là giá trị thương mại của công ty đó. Giá trị thương mại ở đây dựa trên giá trị thương hiệu, giá trị uy tín của Cty cũng như thị phần của công ty đó. Vì vậy, việc định giá Cty như thế nào là một vấn đề lớn. Thật sự nó có thể nó được định giá một cách chủ quan, tức là những người họ đàm phán với nhau đưa ra một giá trị thương mại cho Cty được mua.

  Chỉ sau 11 ngày thông báo, với duy nhất một đơn vị nộp hồ sơ, Tổng công ty Vận tải thủy - công ty cổ phần (Vivaso) đã trở thành cổ đông chiến lược khi mua xong 65% Hãng Phim truyện VN (VFS).

Nhưng thường cần phải có sự đánh giá khách quan bởi một Cty tư vấn mà họ có kinh nghiệm trong vấn đề định giá tài sản. Chẳng hạn như Cty kiểm toán EY, thì những Cty đó có thể đưa ra một giá trị thương hiệu cho Cty được mua, để mà tính vào giá trị chung Cty đó.

Ví dụ, một công ty được mua với giá 100 triệu USD, trong khi đó tất cả tài sản ròng của công ty đó chỉ có 80 triệu USD thì sự chênh lệch 20 triệu USD trong hoạch toán ở đây chính là giá trị của thương hiệu. 20 triệu USD đó được định giá có thể qua thỏa thuận hai bên hoặc qua một công ty định giá độc lập.

- Nhưng ở Việt Nam, giá trị thương hiệu lại quy định là một tài sản vô hình và không được định giá trong việc cổ phần hóa, thưa ông?

Đây là điều bất hợp lý! Thương hiệu là tài sản vô hình có giá trị thương mại. Giá trị thương mại đó cần phải được đánh giá một cách khách quan và cụ thể. Còn nếu bây giờ chúng ta trong việc mua bán DN tại Việt Nam mà không chấp nhận tài sản vô hình thì đó là điều không hợp lý.

Vì vậy, theo tôi, những nguyên tắc về kế toán cần phải cần phải có một quy định cụ thể về việc đánh giá tài sản vô hình, những giá trị thương mại. Mới đây, để nâng cao tính chặt chẽ trong việc cổ phần hóa DN 100% vốn nhà nước, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các DN phải được Kiểm toán Nhà nước kiểm toán kết quả định giá DN và xử lý các vấn đề về tài chính trước khi định giá DN.

- Trân trọng cảm ơn ông!