(DĐDN) - Hợp tác với các công ty Fintech có thể giúp ngân hàng nhận được những kiến thức về công nghệ, khả năng đổi mới và đáp ứng nhanh nhạy yêu cầu của thị trường, nhưng bên cạnh đó nó cũng phát sinh nhiều rủi ro. Câu hỏi được đặt ra liệu các ngân hàng tại Việt Nam nên làm gì trước xu thế này: cạnh tranh hay hợp tác để cùng phát triển?

fintech Hợp tác với các công ty Fintech có thể giúp ngân hàng nhận được những kiến thức về công nghệ, khả năng đổi mới và đáp ứng nhanh nhạy yêu cầu của thị trường, nhưng bên cạnh đó nó cũng phát sinh nhiều rủi ro (Ảnh: nguồn Vnexpress)

Làn sóng Fintech

Năm 2016 là một cột mốc khá đáng nhớ cho các công ty làm trong lĩnh vực công nghệ tài chính (Fintech) khi lĩnh vực này chứng kiến sự bùng nổ về cả số lượng startup, ý tưởng lẫn khoản đầu tư vào đây.

Việt Nam là một mỏ vàng cho các công ty công nghệ, khi sở hữu cấu trúc dân số trẻ, và năng động, tỷ lệ dân số kết nối với Internet đạt 44%, tỷ lệ sử dụng smartphone là 40% và dự kiến sẽ còn tăng mạnh trong những năm tiếp theo.

Trái ngược với điều này, mức độ phủ sóng của các dịch vụ tài chính còn rất thấp, khi chỉ 30% dân số có tài khoản ngân hàng – thấp hơn rất nhiều so với con số trung bình 60% của thế giới. Tỷ lệ này còn tiếp tục giảm mạnh ở vùng nông thôn – 16%. Lĩnh vực công nghệ tài chính, trong đó các sản phẩm cung cấp trải nghiệm ngân hàng, là một sân chơi mới đang chờ được khai phá.

Lĩnh vực này đang nhận được ngày càng nhiều sự quan tâm của nhà đầu tư, các cơ quan quản lý và cũng như sự năng động, và nhanh chóng đổi mới của chính các công ty Fintech.

Theo một khảo sát phạm vi toàn cầu mới đây của PwC, 83% định chế tài chính truyền thống lo ngại rằng một phần hoạt động kinh doanh của họ có nguy cơ rơi vào tay công ty công nghệ tài chính. Trong vòng 5 năm tới, 24% thị phần các ngân hàng trong mảng chuyển tiền và thanh toán sẽ rơi vào tay các Fintech, con số này sẽ là 22% trong lĩnh vực quản lý tài sản và 21% trong lĩnh vực bảo hiểm.

Chấp nhận đối mặt với rủi ro?

Câu hỏi được đặt ra liệu các ngân hàng tại Việt Nam nên làm gì trước xu thế này: cạnh tranh hay hợp tác để cùng phát triển?

Chia sẻ tại Diễn đàn trước làn sóng Fintech trên thế giới và các quốc gia đang phát triển như Việt Nam, ông Ivan Mortimer-Schutts - Chuyên gia Ngân hàng Thế giới (WB) cho rằng, Fintech sẽ có cả tác động về số lượng lẫn biến đổi trong dài hạn với các dịch vụ tài chính. Theo ông, thông qua những thay đổi về số lượng trên toàn ngành ngân hàng, sự phát triển của Fintech có thể giúp tối ưu hóa cấu trúc chi phí trong ngành tài chính, đồng thời có thể giúp các tổ chức cung cấp dịch vụ khách hàng doanh nghiệp và hộ gia đình có tiềm năng doanh thu thấp hơn.

Ở mức độ rộng hơn, Fintech sẽ dẫn đến các thay đổi mang tính cấu trúc, giúp biến đổi cách vận hành của các dịch vụ tài chính.

Tuy nhiên, cũng theo chuyên gia, việc tích hợp Fintech cũng phải đối mặt với rất nhiều thách thức, trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng. Từ chính sách, quy định quản lý đến vai trò của cơ sở hạ tầng và các dịch vụ Chính phủ đều cần được lưu tâm.

Ông Phan Thanh Sơn, Phó tổng giám đốc Ngân hàng TMCP Kỹ Thương Việt Nam (Techcombank) cho rằng, Fintech đang phát triển bùng nổ từ năm 2010 đến nay, doanh thu tới 200 tỷ USD trên toàn cầu. Fintech cũng đang phát triển đa dạng trong nhiều lĩnh vực: bảo hiểm, quản lý tài sản... và xu hướng này vẫn tiếp tục trên toàn cầu.

Hiện các xu hướng công nghệ tài chính trên thế giới có 2 mục tiêu chính: thay thế kênh truyền thống bằng cách giảm chi phí, tăng độ tiện dụng, trải nghiệm của khách hàng và khai thác thị trường mới thông qua công nghệ, đặc biệt là đối với phân khúc khách hàng cá nhân. Với thị trường Việt Nam khi tỷ lệ phổ cập dịch vụ tài chính của người dân còn rất thấp, nhất là khu vực nông thôn thì phổ cập dịch vụ tài chính sẽ là xu hướng chính trong thời gian tới.

Tại Việt Nam, khó khăn của Fintech hiện mới chủ yếu là công cụ thanh toán và người tiêu dùng vẫn còn e dè về tính bảo mật. "Thay vì ảnh hưởng, Fintech và ngân hàng tại Việt Namchủ yếu là mối quan hệ cộng hưởng, hợp lực chứ không phải triệt tiêu lẫn nhau", ông Phan Thanh Sơn nhận xét.

Trong khi các ngân hàng tìm kiếm các cơ hội hợp tác với các công ty Fintech để có thể cung cấp các dịch vụ kỹ thuật số tiên tiến nhất, họ cũng đồng thời phải đặt ra câu hỏi: Liệu việc hợp tác hay tích hợp này sẽ đem lại những rủi ro như thế nào? Và quan trọng hơn, là làm thế nào để có thể quản lý được những rủi ro này.

Ông Nguyễn Hòa Bình, Chủ tịch HĐQT NextTech-group (tiền thân là PeaceSoft) cho rằng, Fintech không chỉ thuần tuý mang đến các nguy cơ và thách thức, mà còn mang đến các cơ hội đầy tiềm năng cho các tổ chức tài chính ngân hàng truyền thống nếu biết nhận diện đúng và tận dụng tốt.

Các ứng dụng Fintech trên thế giới là khá đa dạng, tác động đến hầu hết mọi lĩnh vực hoạt động của ngành tài chính ngân hàng như tiền gửi, thanh toán, bảo hiểm, tín dụng tiêu dùng và doanh nghiệp nhỏ, quản trị rủi ro, an toàn bảo mật…

Ở Việt Nam hiện nay bức tranh còn khá đơn điệu với đại đa số ứng dụng Fintech tập trung trong lĩnh vực thanh toán điện tử và đặc biệt nở rộ hơn một năm gần đây khi Ngân hàng Nhà nước chính thức cấp giấy phép cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán với 16 doanh nghiệp đã được cấp phép và hàng chục doanh nghiệp khác đang chờ cấp phép. Tuy nhiên, chỉ một số ít các doanh nghiệp này hoạt động hiệu quả và có lợi nhuận với một mảng thị trường riêng, trong khi đại đa số còn lại vẫn còn gặp nhiều khó khăn mà theo lời một quan chức tại hội thảo gần đây thì “sống bằng tiền nhà đầu tư”. Ngoài ra còn một số ít ứng dụng trong mảng cho vay tiêu dùng thực sự hoạt động mới chỉ đếm trên hai bàn tay.

Trước thực trạng này, đối với các ngân hàng, theo ông Bình ngoài yếu tố cung cầu và giai đoạn phát triển hiện nay còn tương đối sớm thì còn phải kể đến sự chưa cởi mở hợp tác từ phía chính các tổ chức tài chính ngân hàng truyền thống vì tâm lý e ngại hoặc chưa đủ nhận thức về sự cần thiết phải hợp tác chặt chẽ với các ứng dụng Fintech “thân thiện” để mở rộng thị trường.

Theo ông Jan Bellens, Phó Tổng giám đốc phụ trách thị trường mới nổi toàn cầu Ernst & Young, khi các nhà băng hợp tác với các công ty Fintech, đặc biệt là với một công ty ít tên tuổi, họ có thể sẽ phải đối mặt với hàng loạt rủi ro hoạt động.

Thứ nhất là rủi ro pháp lý. Khi hợp tác với các công ty Fintech, ngân hàng cần rà soát các đặc điểm và chức năng của sản phẩm mới để tránh các ảnh hưởng tiềm tàng về mặt pháp lý. Việc này nhằm đảm bảo các ngân hàng không bỏ sót các quy định mới, cũng như việc tuân thủ các quy định hiện hành không bị ảnh hưởng.

Thứ hai là rủi ro của đơn vị cung cấp thứ ba. Mặc dù ngân hàng không có quyền quản lý trực tiếp, nhưng ngân hàng sẽ phải hoàn toàn chịu trách nhiệm pháp lý nếu rủi ro phát sinh. Do đó, ngân hàng cần chặt chẽ hơn khi đánh giá các đơn vị cung cấp công nghệ, đồng thời thực hiện áp dụng các biện pháp quản lý và thẩm định rủi ro, tốt nhất là các biện pháp này có thể định lượng và chứng minh được với cơ quan chức năng.

Thứ ba là rủi ro dự án. Theo Phó tổng giám đốc EY, do tỷ lệ thất bại của các dự án chuyển đổi được ước tính có thể lên tới 50%, các ngân hàng cần xây dựng kế hoạch triển khai dự án Fintech một cách toàn diện. Các ngân hàng cần hiểu rõ các yếu tố mới trong rủi ro hoạt động khi thực hiện triển khai Fintech có thể ảnh hưởng đến hoạt động của ngân hàng như thế nào và các chức năng cần bổ sung để giải quyết các rủi ro này là gì.

Do đó, ngân hàng cần hiểu rõ các yếu tố mới trong rủi ro, có sự đảm bảo về bảo mật... trong hoạt động khi thực hiện triển khai Fintech.

Châu Huệ (tổng hợp)