Như DĐDN đã thông tin, mới đây, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc yêu cầu chỉnh lý dự thảo Luật Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt theo hướng tăng thời gian giao đất, cho thuê đất, cho phép người nước ngoài sở hữu nhà ở tại các dự án xây dựng đến 99 năm.

- Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc yêu cầu chỉnh lý dự thảo Luật Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt theo hướng tăng thời hạn giao đất, cho thuê đất... Quan điểm của ông về vấn đề này như thế nào?

Có một số quan điểm tỏ ra lo ngại khi Dự thảo Luật Đơn vị hành chính - kinh tế được Thủ tướng yêu cầu chỉnh lí theo hướng tăng thời hạn giao đất, cho thuê đất, sử dụng đất, cho phép người nước ngoài sở hữu nhà ở tại các dự án đầu tư xây dựng nhà đến 99 năm. Nhưng theo tôi, con số 70 năm hay 99 năm nó không phải là vấn đề quá quan trọng. Vấn đề quan trọng bây giờ chính là cơ chế giám sát, quản lí. Nếu chúng ta giám sát, quản lí tốt thì vẫn có thể kiểm soát được mọi vấn đề nếu xảy ra.

Hơn nữa, nếu nhìn ở góc độ khác, chúng ta sẽ thấy đây chính là ưu đãi đặc biệt vượt trội về mặt thể chế dành cho đặc khu.

- Nhưng các đặc khu trên thế giới được thành lập từ rất lâu, trong khi ở thời điểm này chúng ta mới tính đến Luật cho các đặc khu kinh tế dường như quá muộn, thưa ông?

Đương nhiên là muộn rồi. Nhưng thà muộn còn hơn không. Vấn đề xây dựng Luật cho đặc khu có từ thời tôi còn làm việc tại Viện Chiến lược và Phát triển, thậm chí đã có khảo sát từ thời đó nhưng đến bây giờ vẫn chưa hình thành được một chỗ nào mang tính đặc khu.

Chúng ta đã làm chậm, nếu muốn phát triển và đuổi kịp các nước thì phải làm “nhanh hơn, mạnh hơn”. Vấn đề quan trọng bây giờ chính là làm sao để thu hút được đầu tư.

- Là một trong những người đầu tiên khảo sát về Luật cho đặc khu, theo ông cần những ưu đãi về thuế và thể chế đặc biệt nào để các “đặc khu kinh tế” của Việt Nam có thể phát triển?

Để đặc khu phát triển trước tiên cần ưu đãi về thuế, phí ở mức cao hơn là điều kiện chủ yếu để tạo môi trường khuyến khích đầu tư kinh doanh.

Hiện VN có 18 khu kinh tế cùng 325 khu công nghiệp. Cuối năm 2016, Chính phủ thống nhất thành lập thêm 3 đặc khu kinh tế, gồm Vân Đồn (Quảng Ninh), Bắc Vân Phong (Khánh Hòa) và Phú Quốc (Kiên Giang). 

Nhưng đồng thời môi trường này còn đòi hỏi có điều kiện thuận lợi tối đa về quản lý hành chính và chính đó là đặc điểm nổi bật của loại mô hình đặc khu này khác với các khu kinh tế và khu công nghiệp hiện có.
Vì thế, để thu hút các nhà đầu tư đến thì chúng ta phải có những ưu đãi vượt bậc về thể chế, mà như người ta hay ví von là “xây tổ cho phượng hoàng” đến. Tất nhiên, chúng ta cũng phải có sự chọn lọc nhà đầu tư từ đầu nguồn.

Thêm vào đó phải ổn định về kinh tế xã hội để DN yên tâm đầu tư. Ngoài ra những điều kiện về kết cấu hạ tầng hiện đại, đồng bộ và nguồn nhân lực chất lượng cao, điều kiện về an sinh và bảo đảm xã hội, môi trường ở các đặc khu cũng cần phải tốt hơn nhiều so với khu kinh tế và khu công nghiệp.

- Nhưng không phải không có rủi ro, thưa ông?

Vẫn sẽ tồn tại một số yếu tố rủi ro trong các đặc khu như sau:

Thứ nhất, nếu như các đặc khu phát triển nhanh thì sau đó phải giữ được mức ổn định chứ không thể phát triển nhanh rồi lại nhanh chóng đi xuống được.

Thứ hai, nếu chính trị không ổn định thì nó sẽ cản trở lớn đến sự phát triển của đặc khu, đây là vấn đề đáng kể đấy.

Thứ ba, nhà nước phải làm cho DN yên tâm vào thể chế và chính sách để DN phát triển. Chứ nếu như Nhà nước không thể làm DN yên tâm vào chính sách thì rất có thể DN sẽ rời đi.

Các nhà làm luật kỳ vọng dự luật sẽ giúp Việt Nam “đi sau, về trước”, đến năm 2030 thì đưa người dân sống trong đặc khu có thu nhập từ 12.000 đến 15.000 USD/người/ năm? Liệu những con số này có màu hồng quá không, thưa ông?

Con số này là hoàn toàn có thể đạt được. Trong đặc khu lượng dân cư lại được hưởng rất nhiều ưu đãi nên cơ hội để phát triển luôn rất lớn. Từ đó, thu nhập cũng sẽ cao hơn.
Hơn nữa, nếu tính theo tốc độ tăng trưởng như hiện nay thì đến năm 2030 thu nhập bình quân đầu người ở nước ta sẽ rơi vào khoảng từ 3.000 USD đến 4.000 USD, thu nhập bình quân đầu người ở TP HCM sẽ rơi vào khoảng 6.000 USD. Nên kì vọng đến năm 2030 thì những người dân sống trong đặc khu có thu nhập từ 12.000 USD đến 15.000 USD cũng không phải là điều quá xa vời.

- Có rất nhiều mô hình đặc khu trên thế giới như: “đặc khu kinh tế”, “đặc khu hành chính”, “thành phố tự do”… Theo ông, đâu sẽ là mô hình phù hợp với Việt Nam?

Vấn đề không phải là đặc khu nào phù hợp với Việt Nam, bởi trên thực tế, chúng ta không thể bê nguyên xi một mô hình đặc khu kinh tế nào đó vào để áp dụng được. Cái quan trọng ở đây là phải chọn lọc những gì phù hợp với điều kiện của Việt Nam.

Điều cần cân nhắc ở đây chính là cơ chế quản lí hành chính. Ở một số nước tự do nhất thì nhà nước để đặc khu tự quản, tự chủ ở trong cả khu. Còn ở chúng ta, theo tôi thì cần phải có cơ chế quản lí cần thiết mặt an ninh, quốc phòng.

Về mặt hành chính, thể chế quản lí thì chúng ta không thể theo bất cứ ai mà phải theo hướng pháp luật Việt Nam. Sẽ có những thí điểm vượt qua cả Luật và Hiến pháp nhưng vấn đề này cần được xin phép Quốc hội.
Bản chất câu chuyện đặc khu suy cho cùng chính là vấn đề tự do hóa. Ở đây, việc xây dựng các đặc khu không phải là việc lặp lại thể chế, mức độ của tự do hóa giống như cách đây mấy chục năm mà phải làm ở mức tự do hóa như hiện nay.

- Nhiều quan điểm cho rằng, nếu như Luật cho đặc khu được thực hiện cách đây 10 năm thì có thể bây giờ Việt Nam đã có được những đặc khu kinh tế lớn, thưa ông?

Trong phát triển sẽ không thể có từ “nếu” được. Đây chỉ là một cách phân tích, một cách lập luận để chúng ta thấy rằng, chúng ta đã bỏ lỡ một cơ hội. Điều quan trọng là bây giờ với kinh nghiệm lịch sử như thế thì chúng ta phải làm thế nào để đột phá và phát triển như con phượng hoàng yên tâm “đẻ trứng”.
- Xin cảm ơn ông!