TS. Vũ Tiến Lộc, Chủ tịch VCCI, ĐBQH tỉnh đã là thử nghiệm thì, phải bảo đảmkhả năng nhân rộng, bao trùm cho tất cả các địa phương và vùng miền trong cả nướcThái Bình:

TS. Vũ Tiến Lộc, Chủ tịch VCCI, ĐBQH tỉnh Thái Bình: "Đã là thử nghiệm thì phải bảo đảm khả năng nhân rộng, bao trùm cho tất cả các địa phương và vùng miền trong cả nước".

Có ý kiến băn khoăn về việc lựa chọn Vân Đồn, Bắc Vân Phong và Phú Quốc làm nơi đặt đặc khu, với lập luận rằng, đó chưa phải là các nơi thật đắc địa để có thể tạo nên động lực phát triển cho cả vùng và cho nền kinh tế. Các làng chài nghèo Thẩm Quyến, Phố Đông ở Trung Quốc hay Iskandar ở Malaysia… sở dĩ đã trở thành huyền thoại là vì tựa lưng và hướng mặt vào những thành phố khổng lồ như Hồng Kông, Thượng Hải hay quốc đảo Singapore sầm uất. Còn các đặc khu của chúng ta thì cả hậu phương và mặt tiền, đều trống trải, cơ sở hạ tầng còn chưa sẵn sàng, nguồn nhân lực chất lượng cao còn hạn hẹp.

Mục tiêu thử nghiệm cải cách thể chế

Nhưng nếu từ một tầm nhìn khác, thì chúng ta thấy cái lý của việc này. Bởi vì, chúng ta đặt trọng tâm vào mục tiêu thử nghiệm cải cách thể chế và đã là thử nghiệm phải bảo đảm khả năng nhân rộng, bao trùm cho tất cả các địa phương và vùng miền trong cả nước, nên tôi nhất trí cao với Chính phủ về việc lựa chọn các huyện đảo này.

Mặt khác, cũng như phân tích trong giải trình của Chính phủ và các địa phương có liên quan, đặc biệt là trong bản dự án được chuẩn bị rất công phu, kỹ lưỡng của tỉnh Quảng Ninh, đã cho thấy những vùng đất này cũng có nhiều lợi thế để có thể bứt phá. Đặc biệt là các lợi thế cốt lõi cho phát triển du lịch, quỹ đất và không gian cho phát triển đô thị, vị trí địa – kinh tế, khả năng kết nối và sự quan tâm của các nhà đầu tư tiềm năng. Chúng ta cũng vui mừng được biết, trong danh sách các nhà đầu tư chiến lược tiềm năng, có nhiều doanh nghiệp tư nhân trong nước có uy tín, mở ra khả năngcác doanh nghiệp Việt Nam sẽ tham gia làm chủ chứ không chỉ làm thuê trong các đặc khu này.

Một điều cũng đáng lưu ý rằng, trong hệ thống chính trị đặc thù và với vị trí địa – chính trị đặc biệt của nước ta, cùng với sự kết nối là cần thiết, nhưng sự cách biệt tương đối của các huyện đảo này cũng giúp cho quá trình thử nghiệm được kiểm soát tốt hơn và đó cũng là một yêu cầu quan trọng.

Hơn nữa, các đặc khu hành chính kinh tế đang được phôi thai ở nước ta trong bối cảnh không mấy thuận lợi do phải đối diện với xu hướng đảo chiều của thương mại và đầu tư quốc tế theo kiểu nhà đầu tư Hoa Kỳ về Mỹ, hàng Trung Quốc trở lại Tàu, dưới tác động cộng hưởng của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 và chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch đang trở lại, đã khiến cho luồng vốn đầu tư từ Châu Âu và Bắc Mỹ vào các nền kinh tế đang phát triển và mới nổi ở Châu Á trong đó có Việt Nam không còn dồi dào như trước và sức hấp dẫn của các nền kinh tế dựa vào vị trí địa- kinh tế, dựa vào tài nguyên và lao động giá rẻ đã không còn nhiều ý nghĩa.

Chính sách ưu đãi, thể chế vượt trội là hai trục cơ bản

 Vì vậy, để bảo đảm sức hấp dẫn cho đầu tư, tôi nhất trí với quan điểm của Chính phủ rằng khung pháp luật và chính sách cho các đặc khu hành chính kinh tế phải bảo đảm yêu cầu vượt trội không chỉ so với các khu kinh tế và khu công nghiệp hiện có ở Việt Nam mà còn phải vượt trội hơn so với các FTAs mà Việt Nam đã ký kết, thậm chí phải vượt trội hơn cả các đặc khu hành chính - kinh tế tốt nhất trong khu vực.

Tôi cũng đồng ý rằng, chính sách ưu đãi, thể chế vượt trội là hai trục cơ bản cho các thiết kế cụ thể trong bộ luật. Xét về dài hạn, các chính sách ưu đãi về thuế, đất đai, hỗ trợ đào tạo nghề… không phải là những vấn đề quan trọng nhất với các nhà đầu tư, nhưng xét về ngắn hạn, đây là những khuyến khích cần thiết để giúp các đặc khu thu hút được nhanh các nguồn lực về vốn, lao động, công nghệ chất lượng cao… từ các nước trên thế giới và từ các địa phương khác. Vì vậy, về cơ bản, tôi ủng hộ những đề xuất về ưu đãi nêu trong dự luật. Tuy nhiên, những ưu đãi cho các đặc khu cũng có tác động trên cả hai mặt tích cực và tiêu cực trong và ngoài hàng rào của các đặc khu. Tôi đề nghị, những hệ quả này cần được phân tích kỹ trong báo cáo tác động chính sách của Chính phủ để có các giải pháp điều hoà phù hợp.

Tôi đặc biệt đánh giá cao những thiết kế về thể chế vượt trội trong dự luật để bảo đảm có được một môi trường kinh doanh an toàn, minh bạch và thân thiện, một mô hình chính quyền hiện đại, hiệu quả thực sự đồng hành với người dân và doanh nghiệp, hướng tới các chuẩn mực hàng đầu trên thế giới.Vai trò lồng ấp thể chế của các đặc khu thể hiện rõ ở điểm này. Và đây chính là ngôi sao hi vọng trong mô hình đặc khu hành chính kinh tế.

Cải cách thể chế cần có được những bước đột phá

Chúng ta đều biết rằng, với những nỗ lực trong suốt 30 năm đổi mới, Việt Nam được thế giới đánh giá như một điển hình thành công trong cải cách thể chế và chuyển sang kinh tế thị trường. Mấy năm gần đây môi trường kinh doanh và năng lực cạnh tranh của Việt Nam, theo xếp hạng quốc tế, liên tục được thăng hạng nhưng vẫn còn một khoảng cách lớn so với các nền kinh tế hàng đầu của ASEAN và thế giới. Theo các kết quả khảo sát gần đây từ cộng đồng kinh doanh quốc tế, lý do để các nhà đầu tưlựa chọn Việt Nam là điểm đến hàng đầu, chưa phải là yếu tố chất lượng thể chế, mà chủ yếu là sự ổn định chính trị - xã hội, quy mô thị trường, nguồn nhân lực trẻ dồi dào với chi phí thấp... Điều đó hàm nghĩa các thách thức cũng như dư địa lớn nhất của công cuộc cải cách trong thời gian tới chính là nâng cao chất lượng thể chế. Cải cách thể chế cần có được những bước đột phá và cần yêu cầu vượt trội.

Chúng ta vừa tổ chức thành công năm APEC 2017 và Việt Nam đang là một địa chỉ được quan tâm hàng đầu của cộng đồng kinh doanh quốc tế. Việc đột phá về thể chế, cải thiện môi trường kinh doanh để tận dụng các cơ hội mở ra trong thời kỳ hậu APEC, đang là một yêu cầu cấp bách.

Vì vậy, về cơ bản, tôi nhất trí với các đề xuất về chính sách kinh tế - xã hội và mô hình tổ chức chính quyền cơ sở tại các đặc khu này. Về mô hình tổ chức bộ máy chính quyền, tôi nhất trí với Phương án Trưởng đơn vị hành chính thay thế cho mô hình tổ chức HDND và UBND. Đây là một bước đột phá cần thiết cho chính quyền đô thị hiện đại và hiệu quả tại các thành phố đặc khu mà chúng ta kỳ vọng sẽ thuộc thế hệ 4.0 này.

Tôi đề nghị, bổ sung các tiêu chí về chất lượng đối với các nhà đầu tư chiến lược và việc chuyển nhượng các dự án đầu tư chiến lược; cân nhắc thêm về các mức ưu đãi dành cho kinh doanh bất động sản, cho các dự án du lịch và casino.

Thời gian cho thuê đất tối đa là 99 năm, cũng chỉ nên giới hạn trong một số lĩnh vực rất hẹp và thực sự cần thiết. Tôi cũng đề nghị, xem xét lại danh mục các ngành nghề kinh doanh có điều kiện trong đặc khu, để bảo đảm phù hợp với mục tiêu quản lý nhà nước của các ngành nghề này. 

Về tổng thể, tôi cho rằng, chúng ta nên coi các đặc khu kinh tế là các phòng thí nghiệm để đổi mới thể chế và Quốc hội cần tạo ra một khuôn khổ pháp lý, tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho việc áp dụng các thể chế mới mang lại hiệu quả, nhưng đồng thời cũng chỉ nên đưa ra các ưu đãi ở mức cần thiết và có chọn lọc. Bởi nếu các dòng vốn, lao động, công nghệ chỉ chảy vào các đặc khu kinh tế nhờ các ưu đãi lớn thì, một mặt, lợi ích của chúng ta sẽ bị ảnh hưởng, mặt khác sự phát triển của các đặc khu kinh tế sẽ thiếu tính bền vững và cũng như rất khó nhân rộng và lan toả ra các vùng miền khác như mục tiêu quan trọng nhất mà Dự án đặc khu hành chính kinh tế hướng tới.

Việc Quốc hội thông qua dự luật về các đặc khu hành chính - kinh tế sẽ là một đóng góp quan trọng cho quá trình này. Chúng tôi hi vọng, với tinh thần làm việc kiến tạo của cả Chính phủ và Quốc hội, dự luật sẽ được thống nhất về nguyên tắc trong kỳ họp này và sẽ được hoàn chỉnh để thông qua trong kỳ họp lần thứ V sắp tới.