Giải quyết bằng... văn bản không số

Theo những thông tin, tài liệu thu thập được cũng như chính quyền tỉnh Đồng Tháp cung cấp cho DĐDN thông qua buổi làm việc ngày 22/11/2017, đặc biệt là quyết định hòa giải thành “không số” (không có biên bản hòa giải thành đính kèm) ngày 14/01/2005 của UBND xã Tân Nhuận Đông, huyện Châu Thành, các luật sư cho rằng, cách giải quyết của chính quyền Đồng Tháp là thiếu khách quan và thiếu căn cứ thông qua một số văn bản trái với “luật định đã ban hành”.

Quyết định

Quyết định hòa giải thành "không số", không có biên bản hòa giải thành của UBND xã Tân Nhuận Đông được chính quyền Đồng Tháp áp dụng để giải quyết cho dân

Luật Sư Trần Ngọc Bích - Đoàn Luật Sư TP HCM, phân tích: Căn cứ theo những văn bản do gia đình ông Trần Thiện Kim và UBND tỉnh Đồng Tháp cung cấp, cụ thể: Quyết định 200/QĐ-UB – ND ngày 15/06/2000 do Phó Chủ tịch tỉnh Đồng Tháp ban hành và mới đây nhất, tại Văn bản số 789/VPUBND-TCD ngày 11/12/2017 của UBND tỉnh Đồng Tháp về việc phản hồi thông tin gửi cho báo chí khẳng định đã giải quyết dứt điểm vụ việc… Thế nhưng, ngày 12/12/2017, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn mới có Văn bản số 132/SNN-TTr, mời gia đình ông Trần Thiện Kim lên để nhận tiền bồi hoàn; Văn bản số 375/UBND-NC, ngày 15/12/2017 của UBND huyện Châu Thành trả lời cho gia đình ông Trần Thiện Kim và khẳng định: “Đến thời điểm này,UBND huyện Châu Thành chưa nhận được văn bản hướng dẫn chỉ đạo của ngành tỉnh về việc bồi hoàn”.

Văn bản của UBND huyện Châu Thành trả lời cho gia đình ông Trần Thiện Kim về việc chưa nhận được hướng dẫn chỉ đạo của Tỉnh về việc bồi hoàn hoa màu

Văn bản của UBND huyện Châu Thành trả lời cho gia đình ông Trần Thiện Kim về việc chưa nhận được hướng dẫn chỉ đạo của Tỉnh về việc bồi hoàn hoa màu.

Văn bản mời gia đình ông Trần Thiện Kim lên nhận tiền bồi hoàn hoa màu

Bên cạnh đó, điều đáng chú ý liên quan đến hồ sơ hòa giải thành của UBND xã Tân Nhuận Đông, một vấn đề gần như quyết định dứt điểm các khiếu nại của công dân với chính quyền nhưng không được đáp ứng, thể hiện tại văn bản số 159/UBND, ngày 26/12/2017 của UBND xã Tân Nhuận Đông đã khẳng định: “Qua kết quả tự kiểm tra kho lưu trữ của UBND xã Tân Nhuận Đông, đến thời điểm hiện nay chưa tìm thấy hồ sơ hòa giải thành nên UBND xã Tân Nhuận Đông không sao lục hồ sơ hòa giải thành năm 2005 theo yêu cầu của ông Trần Thiện Kim được”.

Văn bản của UBND xã Tân Nhuận Đông trả lời không thấy hồ sơ lưu trữ về Quyết định hòa giải thành

Văn bản của UBND xã Tân Nhuận Đông trả lời không tìm thấy hồ sơ lưu trữ về Quyết định hòa giải thành cho gia đình ông Trần Thiện Kim.

Do đó, chính quyền Đông Tháp dùng các văn bản hành chính này để ép buộc gia đình ông Trần Thiện Kim phải giao đất trong khi không có quyết định thu hồi hay trưng dụng đất là áp đặt, thiếu căn cứ. Bên cạnh đó, suốt từ năm 1987 tới nay, chính quyền Đồng Tháp chưa thực hiện nhiệm vụ việc bồi hoàn hoa màu cho người dân là trái với quy định. Vì vậy, căn cứ theo Điểm 2, Điểm 3, Điểm 4  Phần V Quyết định 201/CP ngày 01/07/1980, Điều 21 Luật Đất Đai 1993 quy định: Việc giao đất đang có người sử dụng cho người khác chỉ được tiến hành sau khi có quyết định thu hồi. Điều 28 Luật Đất đai 1993 quy định: “Trước khi thu hồi đất đai phải thông báo cho người đang sử dụng biết về lý do thu hồi, thời gian, kế hoạch di chuyển, phương án đền bù. Trong trường hợp có nhu cầu khẩn cấp của chiến tranh, chống thiên tai thì trưng dụng đất. Hết thời hạn trưng dụng người sử dụng trả lại đất và đền bù thiệt hại do việc trưng dụng gây ra theo đúng quy định pháp luật”.

Như vậy, việc UBND tỉnh Đồng Tháp ban hành Quyết Định số 01/QĐ.UB ngày 02/01/1987 cấp cho Sở Thủy Sản phần diện tích 19.560m2 của gia đình ông Trần Văn Tâm đang sử dụng khi chưa có quyết định thu hồi hay trưng dụng là vi phạm các quy định của pháp luật. Bên cạnh đó, tại Điều 2, Quyết định 200/QĐ- UBND của UBND tỉnh Đồng Tháp có nêu: “Quyết định này là Quyết định cuối cùng có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký”.

Với nội dung này, UBND tỉnh Đồng Tháp đã vi phạm tại Khoản 1c, Điều 25,  Luật khiếu nại 1998 quy định rõ: Bộ trưởng, Thủ trưởng Cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng Cơ quan  thuộc Chính phủ có thẩm quyền giải quyết khiếu nại mà Chủ tịch UBND cấp tỉnh đã giải quyết lần đầu – Luật sư Bích phân tích.

Và vi phạm "quy phạm pháp luật"

Liên quan đến quyết định hòa giải thành “không số” ngày 14/01/2005 của UBND xã Tân Nhuận Đông, công văn số 286/UBND-TCD ngày 06/10/2017 của UBND tỉnh Đồng Tháp, Luật Sư Trần Tấn Trí Nhân và Luật sư Trần Công Ly Tao – Đoàn Luật sư TP Hồ Chí Minh, cho rằng: Căn cứ Điều 135, Điều 136, Mục 2 - Luật Đất đai 2003 nêu rõ: Kết quả hòa giải tranh chấp đất đai phải được lập thành biên bản có chữ ký của các bên tranh chấp và xác nhận của UBND xã, phường, thị trấn nơi có đất. Trường hợp kết quả hòa giải khác với hiện trạng sử dụng đất thì UBND xã, phường, thị trấn chuyển kết quả hòa giải đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để giải quyết theo quy định về quản lý đất đai.

Việc quyết định công nhận “hòa giải thành” của UBND xã Tân Nhuận Đông, có ngày, tháng, năm nhưng không có “số văn bản”, cũng như không có biên bản hòa giải…Thế nhưng UBND tỉnh Đồng Tháp lại sử dụng để trả lời cho công dân trong nội dung công văn 286 là không phù hợp theo quy định của pháp luật. Do đó, người nhận được công văn này có quyền gửi đơn đến UBND tỉnh Đồng Tháp yêu cầu nêu rõ cơ sở pháp lý của văn bản. Bên cạnh đó,  Điều 6 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp quy 1996 (VBQPPL), quy định: “Văn bản QPPL phải được đánh số thứ tự cùng với năm ban hành và ký hiệu từng loại văn bản”. Điều 12a Luật Quốc Hội số 02/2002/QH11 ngày 16/12/2002 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật ban hành VBQPPL có quy định việc giám sát, kiểm tra VBQPPL:

Thứ nhất, VBQPPL phải được các cơ quan thẩm quyền giám sát, kiểm tra.

Thứ hai, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình cơ quan có thẩm quyền ban hành VBQPPLvà cơ quan giám sát, kiểm tra VBQPL có trách nhiệm kịp thời phát hiện và xử lý các VBQPPL sai trái.

Thứ ba, Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam và các thành viên, cơ quan  tổ chức và công dân có quyền giám sát VBQPPL và kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý VBQPPL sai trái.

Bên cạnh đó, Điều 17, Điều 18, Điều 19, Mục 2 Nghị định số 110/2004/NĐ-CP ngày 08/04/2004 do Thủ tướng Phan Văn Khải ban hành quy định về công tác văn thư: Việc quản lý văn bản đi phải được ghi số, ký hiệu và ngày  tháng năm. Đồng thời phải lưu văn bản đi tại văn thư cơ quan, tổ chức và phải được sắp xếp theo thứ tự đăng ký.

Khu đất của gia ông Tâm bị chính quyền Đồng Tháp đấu giá

Khu đất của gia đình ông Tâm đang tranh chấp thế nhưng lại bị chính quyền tỉnh Đồng Tháp đấu giá cho DN.

Như vậy từ một quyết định hành chính “không số”, không có biên bản đính kèm (UBND xã Tân Nhuận Đông khẳng định đến thời điểm hiện nay chưa tìm thấy hồ sơ), nhưng UBND tỉnh Đồng Tháp lại dùng để áp dụng, xử lý công việc, thông qua các quyết định hành chính do chính mình đã ban hành là o ép dân, thiếu căn cứ. Do đó, việc lấy diện tích đất đang tranh chấp (chưa giải quyết dứt điểm) để đấu giá và giao cho DN là thiếu khách quan và trái với “luật định đã ban hành” - Luật sư Trần Công Ly Tao khẳng định.

Tại văn bản số 789/VPUBND-TCD ngày 11/12/2017 của UBND tỉnh Đồng Tháp về việc phản hồi thông tin cho báo chí liên quan đến khiếu nại của ông Trần Thiện Kim, ngụ xã Tân Nhuận Đông, huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp, nêu: Ngày 29 tháng 11 năm 1986, Sở Thủy sản Đồng Tháp có tờ trình đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp diện tích 02ha đất của gia đình ông Trần Văn Tâm (cha ông Trần Thiện Kim) để xây dựng trại tôm giống và cá giống. Ngày 02/01/1987, UBND Tỉnh ban hành Quyết định số 01/QĐ.UB cấp phần đất đó cho Sở Thủy Sản Đồng Tháp để xây dựng trại sản xuất tôm, cá giống. Do đó, việc giao đất được thực hiện theo đúng quy định và phù hợp với điểm 2, điểm 3 - phần V Quyết định số 201-CP ngày 01 tháng 7 năm 1980 của Hội đồng Chính phủ (nay là Chính phủ) quy định về việc giao đất và thu hồi đất. Vì vậy, việc khiếu nại của ông Trần Văn Tâm đã được UBND tỉnh Đồng Tháp giải quyết theo quyết định số 200/QĐ-UB-ND ngày 15/6/2000, công văn số 286/UBND-TCD ngày 06/10/2017 về việc trả lời khiếu nại của ông Trần Văn Tâm và ông Trần Thiện Kim. 

Mặt khác phần đất tranh chấp ông Trần Văn Tâm đã thỏa thuận với Trung tâm giống thủy sản thuộc Công ty Dịch vụ Phát triển Nông nghiệp tỉnh Đồng Tháp thống nhất giao đất và xác định ranh giới sử dụng được UBND  xã Tân Nhuận Đông, huyện Châu Thành ban hành quyết định hòa giải thành ngày 14/01/2005. Căn cứ các văn bản quy phạm pháp luật và quyết định hòa giải thành của UBND xã Tân Nhuận Đông, huyện Châu Thành thì việc khiếu nại của ông Trân Văn Tâm (con là Trần Thiện Kim) đã được giải quyết dứt điểm?