(DĐDN)- Trong bảng xếp hạng 50 quốc gia về cạnh tranh xuất khẩu hàng hoá của WTO thì VN có thứ hạng thấp nhất, trong khi đó  Singapore, Malaysia, Thái Lan và Indonesia lần lượt theo thứ tự là 14, 19, 25 và 32. Sự cải thiện năng lực cạnh tranh của Việt Nam cũng diễn ra chậm và có xu thế tụt hậu so với các nước khu vực và các nước phát triển.  Ở góc độ doanh nghiệp, đây là sự thật đã được cảnh báo.

det-may2 copy Xưởng sản xuất của Công ty CP May Sài Gòn 3

Theo phân tích của VCCI, xét về yếu tố thể chế kinh tế, VN xếp hạng 92 thế giới, đứng thứ 9 trên 10 quốc gia của khu vực ASEAN, chỉ hơn Myanmar. Ở nhóm yếu tố về sáng tạo, VN xếp hạng 87 thế giới; mức độ sẵn sàng áp dụng công nghệ mới của VN xếp hạng 99.

Bắt nhịp xu thế kinh doanh của thế kỉ 21

Trên thế giới, một xu thế đang diễn ra là nhiều công ty ở quy mô khác nhau đang đi theo tiến trình công nghệ và toàn cầu hóa — để thu hoạch lợi nhuận. Đơn cử cụ thể là mô hình hoạt động của “Apple” đã mang đến lợi thế cạnh tranh sự đánh bật nhiều ông lớn đa quốc gia về công nghệ: “Được Apple thiết kế ở California. Lắp ráp tại Trung Quốc”. Các biến thể khác nhau của chiến lược sản xuất này đã thành công không những đối với Apple và các đại công ty toàn cầu khác mà còn đối với các hãng có tầm cỡ trung bình và thậm chí đối với các “Cty đa quốc vi mô”. Các đặc điểm thể hiện như sau:

Thứ nhất, số hóa và mạng lưới là hai hiện tượng đang diễn ra đều khắp trong mọi công nghiệp và chức năng của nền kinh tế, từ buôn bán lẻ và các dịch vụ tài chính đến khu vực chế tạo và khuyến mãi.

Thứ hai, không chạy theo lao động rẻ nữa mà sẽ gia tăng giá trị bằng cách thu ngắn thời gian giao hàng, cắt giảm các phí tổn tồn kho, và các chi phí tương tự.

Thứ ba, các tiềm năng đang tăng trưởng của việc tự động hóa đe dọa chiến lược thu hút đầu tư từ cung cấp lao động rẻ để bù lại năng suất thấp và thiếu kỹ năng. Theo đó, nhóm thứ 3 (sáng kiến, sáng tạo, mô hình kinh doanh mới) lấn át nhóm lao động rẻ và nhóm chủ tư bản thông thường.

Thứ tư, những người có thể đưa ra các ý tưởng mới lạ và các cải tổ là tài nguyên khan hiếm nhất và do đó có giá trị nhất trong “thời đại cơ giới thứ hai” chứ không phải là lao động phổ thông hay vốn thông thường.

Thứ năm, các công nghệ kỹ thuật số đang biến cả lao động thông thường lẫn vốn thông thường thành hàng hóa, điều này sẽ giúp những người có óc sáng tạo, cải tổ và kinh doanh đem lại nhiều giá trị cho doanh nghiệp chứ không phải là công nhân hay người đầu tư.

Năng lực tài chính của doanh nghiệp VN rất yếu kém. Số DN có vốn dưới 1 tỷ đồng chiếm tới 44,1%. Vốn bình quân của doanh nghiệp VN vào khoản 24 tỷ thấp hơn gần 13 lần so với doanh nghiệp FDI.

Phát triển DNVVN Việt Nam nguyên tắc nào?

DNVVN cần phát triển năng lực kinh doanh cạnh tranh của mình dựa trên các nguyên tắc chủ yếu sau đây: Không phát triển dựa trên quy mô vốn lớn mà dựa trên mô hình tổ chức và sản phẩm lợi thế. Tìm kiếm hiệu quả từ tổ chức mô hình sản xuất kinh doanh và đầu tư sản phẩm chuyên biệt, chất lượng. Không cạnh tranh bằng giá rẻ mà dựa trên chất lượng dịch vụ hổ trợ, chăm sóc tại chỗ. Phát triển thương hiệu, thị trường dựa trên Internet. Mạnh dạn đầu tư công nghệ từng bước để nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin để bù đắp thiếu hụt nhân lực trình độ.

Song song, những phương thức khắc phục yếu điểm và nâng cao năng lực cạnh tranh DNVVN còn cần được tính đến và áp dụng với sự hỗ trợ của cả định hướng, cơ chế chính sách lẫn nỗ lực của DN. Cụ thể, với yếu tố yếu kém về vốn đầu tư, kinh doanh, hướng giải quyết là: Xây dựng chiến lược với các giai đoạn phát triển cụ thể, khả thi, có phân kỳ đầu tư hợp lý; sử dụng Outsource, liên kết, hợp tác. Chọn lựa mô hình Cty cổ phần và thuê tư vấn tài chánh chuyên nghiệp để mời gọi đối tác đầu tư tài chính. Với hạn chế về công nghệ, DN cần tổ chức mô hình phù hợp tăng quy mô sản xuất kinh doanh để ứng dụng công nghệ hiệu quả đồng thời mạnh dạn hợp tác, thuê chuyên gia (tổ chức) có năng lực thực tiển để chọn lựa và ứng dụng công nghệ hiệu quả…

Ngoài ra, DNVVN cần tìm kiếm thị trường – xây dựng dựa trên nền tảng chất lượng sản phẩm và dịch vụ khách hàng; Xây dựng chuỗi sản xuất, cung ứng để có nguồn lực chuyên biệt phát triển thị trường và hợp tác với các nhà phân phối chuyên nghiệp...

Những giải pháp cơ bản nêu trên cần sự vận động tự thân của DN nhiều hơn là sự hỗ trợ của chính sách, cơ chế. Tuy nhiên, một môi trường kinh doanh thông thoáng, tiến bộ và công bằng theo hướng Nhà nước kiến tạo, DN sáng tạo, kinh tế thị trường, mới đích thực là điều kiện đủ để DNVVN phát huy năng lực năng lực cạnh tranh, ngày càng lớn mạnh và đóng góp tốt hơn vào nền kinh tế.

 TS Đinh Thế Hiển