Trả lời DĐDN, ông PHẠM QUỐC DOANH - Chủ tịch Hiệp hội Mía đường Việt Nam (VSSA) cho rằng: Nhà nước cần có các chính sách phát triển đồng bộ, đặc biệt ưu đãi phát triển các sản phẩm sau đường và cạnh đường để giúp các doanh nghiệp “vượt” Hiệp định ATIGA.

- Nhưng ông có thể lý giải vì sao các doanh nghiệp Việt lại không đi “đường chính” mà phải đi vào các sản phẩm sau đường ngay tại sân nhà?

Trước hết, ngành đang thiếu một hành lang pháp lý để khuyến khích phát triển ngành. Hơn nữa, năng suất của Việt Nam còn thấp hơn bình quân thế giới, năng suất đường/ha mía của chúng ta là 5-6 tấn đường/ha, thấp hơn nhiều so với mức 10-11 tấn, thậm chí 15 tấn/ha của Thái Lan và nhiều nước. Đặc biệt, so với Thái Lan, giá mía nguyên liệu của chúng ta đang cao hơn 30-40%. Cùng với đó, thời gian qua, đường nhập lậu từ Thái Lan đổ về nội địa đã lên tới 500.000 tấn/năm, chiếm 1/3 sản lượng đường sản xuất trong nước, khiến doanh nghiệp sản xuất trong nước ngậm ngùi nhìn đường lậu khuynh đảo thị trường.

Đáng lo ngại hơn, nhiều doanh nghiệp sử dụng đường đang... chờ Hiệp định ATIGA có hiệu lực, mở cửa hạn ngạch và giảm thuế suất mặt hàng này về 5%, điều này sẽ khiến các nhà máy sản xuất đường trước nguy cơ “chết yểu”.

- Vì sao Thái Lan và nhiều nước lại sản xuất được đường giá cạnh tranh hơn so với Việt Nam?

Câu này cũ nhưng chưa bao giờ hết thời sự. Thái Lan luôn là đối thủ đáng gờm của Việt Nam bởi nước này có chi phí sản xuất và giá cạnh tranh so với đường Việt Nam. Hiện giá đường Thái Lan chỉ ở mức 12.000 đồng/kg, thấp hơn 2.000 đồng/kg so với chúng ta.

22 nhà máy có công suất dưới 3.000 tấn nguy cơ đóng cửa rất cao, sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống, việc làm của hàng chục triệu lao động, công nhân, ước tổng thiệt hại lên tới 10.000 tỷ đồng.

Để làm được điều đó, nước này có cả một Đạo luật căn bản về mía đường năm 1984, với những chính sách cụ thể với người sản xuất mía và đường, quy định về chia sẻ lợi ích giữa nhà máy và người trồng mía. Họ cũng ấn định giá mía ban đầu do Hội đồng Đường Thái Lan ấn định, lợi nhuận phân chia 70% cho người trồng mía và 30% cho người sản xuất đường. Quỹ phát triển mía đường Thái Lan sẽ bù vào những phần giá mía thấp hơn sau khi niên vụ kết thúc. Hơn nữa, Ngân sách của Nhà Vua Thái Lan cũng cấp 1,5-2 triệu USD cho việc hỗ trợ nghiên cứu giống miễn phí cho doanh nghiệp và người dân. Toàn bộ chi phí cơ giới hoá cho sản xuất cũng được Quỹ Mía đường Thái Lan hỗ trợ từ 1-2% lãi suất.

- Như ông biết, chỉ còn hơn tháng nữa Hiệp định ATIGA có hiệu lực, chắc hẳn cuộc cạnh tranh của ngành đường Việt sẽ không chỉ có Thái Lan, thưa ông?

Hiệp định ATIGA khi mở cửa hạn ngạch và thuế suất về 5%, sẽ có hai kịch bản với doanh nghiệp trong ngành.

Thứ nhất, các nhà máy đường buộc phải hạ giá mua mía nguyên liệu của nông dân để giảm giá bán ít nhất là bằng với giá đường của Thái Lan mới có thể cạnh tranh. Hiện, giá mía các nhà máy đường thu mua của nông dân dao động từ 800.000 - 1 triệu đồng/tấn. còn Thái Lan chỉ 500.000-600.000 đồng/tấn. Khi đó, nông dân có thể chuyển sang trồng loại cây khác có giá trị kinh tế cao hơn. Như vậy, ngành mía đường sẽ phá sản nếu không có nguyên liệu mía và đường ngoại tràn vào.

Kịch bản thứ hai, có thể các nhà máy sẽ chuyển từ mua mía của nông dân sang nhập đường thô về để tinh luyện. Kịch bản này cũng không ai chờ đợi bởi hiện nay có tới 33 vạn hộ nông dân, 1,5 triệu lao động và 35 vạn công nhân đang lao động, sản xuất trong ngành mía đường.

Để tháo gỡ khó khăn cho ngành đường, ngày 25/8, VSSA đã gửi văn bản kiến nghị lên Thủ tướng Chính phủ đề nghị cho lùi thời gian thực hiện cam kết trong khối ASEAN theo Hiệp định ATIGA đến năm 2022, nếu sớm hơn là 2020.

- Nhưng việc “giãn” thời hạn áp dụng ATIGA có giải quyết tận gốc vấn đề?

Hiệp hội mong muốn trước mắt việc giãn thời hạn áp dụng ATIGA có thể giúp doanh nghiệp Việt chuẩn bị tốt hơn cho hội nhập. Đồng thời, VSSA cũng kiến nghị, thuế suất nhập khẩu ngoài hạn ngạch thuế quan cũng giảm 50% so với trước đây chỉ còn 40% đối với đường thô và 45% đối với đường trắng. Hiệp hội đề nghị Bộ NN&PTNT xây dựng hàng rào kỹ thuật và kiểm soát chất lượng đường nhập khẩu theo quy định về chứng nhận tiêu chuẩn sản phẩm.

- Vậy còn giải pháp lâu dài là gì, theo ông?

Ngành mía đường cần một chính sách phát triển đồng bộ và bền vững. Có thể xây dựng vùng thí điểm cho sản xuất cơ giới hoá, giảm chi phí và giá thành. Thành lập Quỹ phát triển mía đường, do doanh nghiệp đóng góp nhưng có “vốn mồi” từ trích từ nguồn đấu giá hạn ngạch mía đường. Đồng thời, nhanh chóng trình Thủ tướng đăng ký xây dựng Luật Mía đường...

Đặc biệt, Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ sản phẩm sau đường và cạnh đường. Điện sinh khối là nguồn thu lớn với doanh nghiệp đường, có những doanh nghiệp thu vài trăm tỷ đồng/năm bởi nguồn này.
Vì vậy, cần có chính sách khuyến khích doanh nghiệp phát triển sản phẩm sau đường này để doanh nghiệp tăng cường tiềm lực trong cảnh hội nhập. Sắp tới, khi chuyển sang dung xăng sinh học E5 thì nhu cầu ethanol của Việt Nam sẽ là rất lớn. Đây là cơ hội cho doanh nghiệp ngành mía đường.

- Xin cảm ơn ông!