Tại phiên thảo luận về việc thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý, sử dụng vốn, tài sản nhà nước tại doanh nghiệp và cổ phần hóa DNNN ngày 28/5, đại biểu Vũ Tiến Lộc (đoàn Thái Bình) đã có bài phát biểu về vấn đề này. Báo Diễn đàn Doanh nghiệp xin trích đăng toàn văn bài phát biểu của đại biểu Vũ Tiến Lộc.

"Kết quả giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý, sử dụng vốn, tài sản nhà nước tại doanh nghiệp và cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước giai đoạn 2011-2016 cho thấy một thực trạng đáng buồn, lẽ ra phải đóng vai trò dẫn dắt trong nền kinh tế, nhưng các chỉ tiêu hiệu quả hoạt động của khu vực doanh nghiệp nhà nước lại đang ở vị trí khóa đuôi.

Hệ số ICOR của khu vực doanh nghiệp nhà nước luôn cao hơn nhiều so với các thành phần kinh tế khác. Ví dụ, năm 2016 các doanh nghiệp nhà nước phải bỏ ra gần 10 đồng vốn đầu tư mới thu được 1 đồng tăng trưởng, cao gấp gần 2 lần so với mức chỉ trên 5 đồng của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) và cao gấp hơn 1,5 lần so với mức trên 6 đồng của khu vực kinh tế ngoài nhà nước.

Đại biểu Vũ Tiến Lộc, đoàn Thái Bình

Đại biểu Vũ Tiến Lộc (đoàn Thái Bình) 

Hơn nữa, mức sinh lời trên vốn chủ sở hữu và tài sản tại các doanh nghiệp nhà nước không chỉ ở mức thấp, mà còn có xu hướng giảm liên tục theo thời gian, từ 16,4% và 6,5% năm 2012 xuống còn 10% và 4,6% năm 2016. Ngân sách nhà nước cũng đã nhiều năm thất thu với thành phần kinh tế nhà nước, tốc độ tăng thu chỉ đạt mức trung bình 3%/năm trong giai đoạn 2011-2016.

Điểm rất cần lưu ý là xu hướng sụt giảm hiệu quả sử dụng vốn tại các doanh nghiệp nhà nước nêu trên lại diễn ra trong bối cảnh nền kinh tế đang trên đà phục hồi, chất lượng tăng trưởng được cải thiện, tức là nó diễn ra ngược chiều với xu thế chung. Điều này cho thấy, những yếu kém của khu vực doanh nghiệp nhà nước chủ yếu là vấn đề nội tại của khu vực này, chứ không phải do những tác động từ môi trường bên ngoài.

Đoàn giám sát của Quốc Hội đã chỉ ra một số nguyên nhân dẫn đến hiệu quả sử dụng vốn thấp tại các doanh nghiệp nhà nước như: Hệ thống pháp luật còn chồng chéo, thiếu rõ ràng, nên chưa tạo đầy đủ quyền chủ động cho doanh nghiệp; Thiếu hệ thống công cụ đánh giá tổng thể về quản trị doanh nghiệp, hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp; Năng lực, hiệu quả quản lý của người đại diện chủ sở hữu, người điều hành doanh nghiệp còn chưa cao; Hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát chưa hiệu quả; Việc xử lý trách nhiệm của người đứng đầu khi xảy ra vi phạm chưa nghiêm...

Mặc dù đồng tình với những đánh giá, nhận định này, nhưng tôi cho rằng đây chưa phải là những nguyên nhân sâu xa nhất. Những kết quả yếu kém của khu vực doanh nghiệp nhà nước so với khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước và khu vực doanh nghiệp FDI tồn tại trong một thời gian dài và phổ biến không chỉ ở nước ta, mà ở hầu hết các nền kinh tế trên thế giới, kể cả các nền kinh tế có trình độ quản trị tiên tiến nhất đã cho thấy nguyên nhân gốc rễ nằm ở vấn đề sở hữu và động lực phát triển của doanh nghiệp.

Bởi vậy, nếu tỷ trọng sở hữu nhà nước tại các doanh nghiệp vẫn được duy trì ở mức cao áp đảo thì những nỗ lực cải cách khác nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp nhà nước như hoàn thiện hệ thống pháp lý cho bớt chồng chéo, tăng tính chủ động của doanh nghiệp, xác lập các tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động doanh nghiệp, hay tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra cũng sẽ không có nhiều ý nghĩa và không thể đem lại những kết quả như mong muốn.

Theo tôi, chủ trương đúng đắn và rất cần được quán triệt xuyên suốt trong quá trình cải cách doanh nghiệp nhà nước để từ đó nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong toàn bộ nền kinh tế là phải quyết liệt đẩy mạnh quá trình cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước một cách thực chất và thoái vốn nhà nước ra khỏi hầu hết các lĩnh vực kinh doanh mà nhà nước không cần phải nắm giữ theo đúng tinh thần của các nghị quyết của Đảng.

Nhưng điều đáng tiếc là tiến trình cổ phần hoá và thoái vốn nhà nước thời gian qua lại diễn ra rất chậm chạp và rất hình thức. Trong giai đoạn 2011-2016, cả nước đã cổ phần hoá được 571 doanh nghiệp và bộ phận doanh nghiệp, nhưng chỉ thu về được khoảng 43 nghìn tỷ đồng là quá ít ỏi. Nhiều tổng công ty chỉ bán từ 1% đến 2% vốn điều lệ ra bên ngoài, nên khó có thể gọi đó là cổ phần hoá theo đúng nghĩa, thậm chí là vô nghĩa. Lượng vốn Nhà nước sở hữu tại các doanh nghiệp đã bán cổ phiếu lần đầu ra công chúng vẫn còn rất lớn, theo báo cáo giám sát chiếm tới 81,1% vốn điều lệ, nên vì vậy, một lượng lớn các nguồn lực tài chính cho đến nay vẫn chưa tìm được người chủ sở hữu có đủ động lực để sử dụng chúng một cách hiệu quả.

Thực tiễn cho thấy, sự chậm trễ trong tiến trình cổ phần hoá không chỉ là do những nguyên nhân mang tính khách quan như khó khăn trong định giá doanh nghiệp và xử lý nợ tồn đọng hay do bối cảnh kinh tế trong nước và quốc tế chưa thuận lợi…, mà còn do những yếu tố mang tính chủ quan như những lo ngại của ban lãnh đạo doanh nghiệp về việc phải chịu trách nhiệm cho những sai phạm, kết quả yếu kém của công ty khi doanh nghiệp khi phải thực hiện kiểm toán và đánh giá lại giá trị để thực hiện cổ phần hoá.

Điều quan trọng hơn, cũng phải kể đến là sự thiếu quyết liệt trong điều hành của các bộ ngành, dẫn đến nhiều chính sách, giải pháp là đúng đắn nhưng hiệu lực thực thi chưa cao. Chẳng hạn như các quy định về niêm yết trên thị trường chứng khoán đối với các doanh nghiệp cổ phần hoá một yêu cầu minh bạch được coi là sơ đẳng cho một doanh nghiệp lớn trong nền kinh tế thị trường dù đã được ban hành rộng rãi nhưng lại không được các doanh nghiệp thực hiện nghiêm túc, thậm chí là trì hoãn. Theo báo cáo của Đoàn giám sát Quốc Hội, đến tháng 8/2017 có tới 747 doanh nghiệp cổ phần hoá chưa thực hiện nội dung này nhưng vẫn chưa có ai phải chịu trách nhiệm về sự chậm trễ.

Những sự chậm trễ, thậm chí là những trì hoãn những nỗ lực cải cách như vậy sẽ làm ảnh hưởng đến niềm tin của người dân, niềm tin của các nhà đầu tư vào triển vọng cải cách doanh nghiệp nhà nước nói riêng và cải cách nền kinh tế nói chung.
Tôi hy vọng rằng, trong thời gian tới, Chính phủ sẽ thúc đẩy tiến trình cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước một cách quyết liệt như đã và đang thúc đẩy tiến trình cải cách hành chính, cắt bỏ giấy phép con và điều kiện kinh doanh thời gian qua trong thời gian qua. Nếu được như vậy, tôi tin rằng động lực phát triển tại các doanh nghiệp sẽ được khơi dậy và tạo tiền đề cho việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn nhà nước, thúc đẩy phát triển mạnh mẽ khu vực kinh tế tư nhân, từ đó thúc đẩy tốc độ tăng trưởng và cải thiện chất lượng tăng trưởng của nền kinh tế nước ta.

Ngoài những kiến nghị trên đây, tôi xin nêu thêm 2 ý kiến:

Để hoàn thiện khung khổ pháp lý và tăng cường kỷ cương thực hiện tiến trình cổ phần hóa DNNN, đề nghị Quốc hội xem xét, giao Chính phủ chuẩn bị trình Quốc hội Dự Luật về Cổ phần hóa DNNN. Vấn đề cổ phần hóa DNNN là vấn đề lớn, hệ trọng trong nền kinh tế nước ta, cho nên rất xứng đáng có một bộ luật của Quốc hội về vấn đề này.

Tôi cũng đề nghị Quốc hội giao Chính phủ nghiên cứu ban hành các chủ trương, chính sách hỗ trợ thúc đẩy các doanh nghiệp tư nhân trong nước, bào gồm cả các nhà đầu tư chiến lược và các doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể tham gia vào quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước bằng các giải pháp phù hợp, không vi phạm các cam kết hội nhập, nhưng thực sự tạo thuận lợi cho doanh nghiệp Việt Nam.

Để bảo đảm rằng, quá trình lùi bước của doanh nghiệp nhà nước trong những lĩnh vực mà nhà nước không cần nắm giữ sẽ mở đường cho sự tiến lên của khu vực tư nhân trong nước vào những cơ hội kinh doanh mở ra trong những lĩnh vực này, chứ không phải chỉ là cơ hội của khu vực FDI ngoài nước. Vì suy cho cùng, sự phát triển mạnh mẽ của khu vực tư nhân trong nước, chính là nền tảng quan trọng nhất để bảo đảm sự phát triển bền vững và tự chủ của nền kinh tế Việt Nam.