Đại biểu Hoàng Quang Hàm (Phú Thọ)

Đại biểu Hoàng Quang Hàm (Phú Thọ)

Thứ nhất, đại biểu Hàm cho rằng, báo cáo thẩm tra còn 9 nội dung cơ quan thẩm tra đề nghị Chính phủ làm rõ hoặc giải trình, thuyết minh thêm; 3 nội dung đề nghị rà soát, cập nhật và đều liên quan đến các nội dung quan trọng, cơ bản của dự án cả về qui mô, phương án, hình thức, nguồn vốn đầu tư… nên rất khó khăn cho việc xem xét, tham gia ý kiến.

Thứ hai, dự án có 8/11 dự án thành phần triển khai theo hình thức hợp đồng BOT, trong điều kiện Ủy ban Thường vụ Quốc hội vừa thực hiện giám sát và chỉ ra nhiều sai sót hạn chế của hình thức hợp đồng này thì nghị quyết giám sát mới ban hành, chưa thể hoàn thiện ngay cơ chế, chính sách. “Đề nghị Chính phủ trình Quốc hội biện pháp khắc phục những sai sót hạn chế Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã chỉ ra để đưa vào Nghị quyết của Quốc hội làm căn cứ thực hiện” - đại biểu Hàm nói.

Cũng theo đại biểu Hàm, các biện pháp đó cần phải đảm bảo rõ tiêu chí để lựa chọn dự án BOT; rõ tiêu chí đánh giá năng lực và lựa chọn nhà đầu tư, qui định chặt chẽ để bảo đảm nhà đầu tư thực góp vốn; đồng thời BOT chỉ áp dụng đối với tuyến đường mới nhằm đảm bảo quyền lựa chọn cho người dân; đấu thầu rộng rãi để lựa chọn nhà thầu; qui định về tham vấn và lấy ý kiến người dân; qui định vị trí đặt trạm, công nghệ thu phí để đảm bảo chỉ phải nộp tiền khi sử dụng đường và đúng số km sử dụng…

Thứ ba, hiện nay 8 dự án thành phần triển khai theo hình thức hợp đồng BOT đều trộn lẫn ngân sách và phần thu phí trong chi phí xây dựng, trong khi chưa đánh giá hợp lý khả năng thu phí hoàn vốn, chưa có tiêu chí để xác định ngân sách sẽ đầu tư đoạn đường nào, phần nào của dự án.

Tính toán theo số liệu trong báo cáo của Chính phủ, riêng tổng số tiền phải thu hoàn vốn lấy bằng tổng mức đầu tư, không bao gồm chi phí giải phóng mặt bằng, cộng thêm 50% chi phí phải thu hoàn vốn chưa tính trong tổng mức đầu tư như chi phí vận hành, chi phí duy tu sửa chữa, lãi vay... Điều này cho thấy nhiều dự án có thể thu hồi toàn bộ vốn trong thời gian ít hơn rất nhiều so với vòng đời trung bình của dự án BOT (24 năm) nhưng vẫn dự kiến bố trí ngân sách là không hợp lý, như: Đoạn Mai Sơn – Quốc lộ 45; đoạn quốc lộ 45- Nghi Sơn, theo cách tính trên chỉ cần khoảng 13-14 năm là hoàn vốn nhưng dự kiến bố trí vốn ngân sách không bao gồm giải phóng mặt bằng lần lượt là 3.172 tỷ; 848 tỷ đồng.

“Chính phủ rà soát, đánh giá và xác định các dự án có thể thu phí toàn bộ để hoàn vốn làm cơ sở bố trí kinh phí ngân sách; minh bạch giữa ngân sách và thu phí theo đó các dự án khó thu phí thì đầu tư toàn bộ bằng trái phiếu; các dự án BOT thì ngân sách chỉ hỗ trợ chi phí giải phóng mặt bằng; chi phí lập, thẩm định phê duyệt dự án, thiết kế dự toán, công tác đấu thầu, quyết toán. Còn chi phí xây dựng nhà đầu tư bỏ vốn toàn bộ sau đó tổ chức thu phí hoàn vốn" - đại biểu Hàm kiến nghị.

Để triển khai nguyên tắc bố trí ngân sách như trên đại biểu Hàm đề nghị mỗi dự án thành phần Chính phủ đánh giá cụ thể chi phí, lợi ích theo từng phương án (đầu tư công toàn bộ hoặc thu phí hoàn vốn toàn bộ) để so sánh, lựa chọn phương án tối ưu. Việc lựa chọn này nếu tính toán kỹ thì khả năng đấu thầu thành công cũng tương đồng với phương án Chính phủ trình và cũng không sử dụng quá số vốn ngân sách dự kiến là 55.000 tỷ đồng; vì nếu nhà đầu tư bỏ toàn bộ vốn thì nhiều dự án chỉ cần kéo dài thời gian thu phí thêm một, vài năm và vẫn còn khá xa so với thời gian thu phí trung bình của dự án BOT (24 năm).

Ngoài ra, quá trình phân tích lợi ích, chi phí phải lưu ý ưu, nhược điểm của 2 phương án, cụ thể: Đầu tư BOT nhà nước bỏ ít ngân sách nhưng giá thu phí không điều tiết được cho phù hợp với sức chịu đựng của nền kinh tế, người dân; chi phí phải cộng thêm lợi nhuận của nhà đầu tư (cao hơn lợi nhuận định mức của lĩnh vực đầu tư xây dựng); cộng thêm lãi vay ngân hàng (thường cao hơn lãi phải trả của trái phiếu Chính phủ); Đầu tư bằng trái phiếu sẽ tăng qui mô nợ công (dự án này không tăng do cũng chỉ khoảng 55 ngàn tỷ trái phiếu, như phương án Chính phủ trình); nhưng ưu điểm là nhà nước điều tiết được mức thu phí phù hợp; nguồn thu phí sẽ tạo được nguồn để trả nợ hoặc tiếp tục đầu tư các công trình khác; chi phí nếu quản lý chặt chẽ sẽ thấp hơn đầu tư BOT.

Do đó, Chính phủ cần rà soát, xác định hình thức đầu tư hợp lý cho từng dự án thành phần theo nguyên tắc không bố trí ngân sách cho chi phí xây dựng của dự án BOT. Cân nhắc khi giải phóng mặt bằng phân chia theo địa giới hành chính để dễ thực hiện nhưng phân chia các dự án thành phần thì không cần thiết theo địa giới mà nên căn cứ vào lưu lượng xe để phân chia phù hợp làm căn cứ đầu tư BOT.

Thứ tư, xác định số vốn cần bố trí đến hết 2020 để cân đối cho các dự án quan trọng quốc gia giai đoạn 2016- 2020 đang thiếu vốn (dự án đề xuất 55 ngàn tỷ nhưng đến 2021 mới hoàn thành nên đến 2020 sẽ không sử dụng hết 55 ngàn tỷ).

Thứ năm, Chính phủ cần đánh giá cụ thể việc thực hiện dự án sẽ thay đổi qui hoạch của các địa phương, các vùng như thế nào để có giải pháp về giao thông, phân bổ dân cư, nguồn lực... Việc chuyển nhượng kinh doanh các dự án đầu tư công chưa nên đặt vấn đề thời điểm này mà chờ dự án hoàn thành sẽ căn cứ vào điều kiện kinh tế, xã hội và ngân sách để tính toán chuyển nhượng hay nhà nước quản lý và thu phí; cần có giải pháp cụ thể để huy động nguồn lực và đấu thầu thành công các dự án BOT. Lưu ý rà soát lại tỷ suất lợi nhuận của nhà đầu tư vì có ý kiến cho rằng, so với mặt bằng chung đang cao và khi bỏ phiếu tại Chính phủ có 3 Bộ trưởng phụ trách về kinh tế, ngân sách không thống nhất (Kế hoạch đầu tư, tài chính, công thương); thống đốc ngân hàng đề nghị giải thích thêm cơ sở tính toán.

Thứ sáu, đại biểu Hàm không tán thành với đề xuất của Chính phủ sử dụng 15 ngàn tỷ đồng cho các công trình đường sắt, giao thông cấp bách. Vì những công trình này không phải công trình quan trọng quốc gia và thực tế đã cấp bách từ lâu rồi, nhưng Chính phủ đã không ưu tiên bố trí theo đúng nguyên tắc trong Nghị quyết 26 của Quốc hội. Vì vậy Chính phủ nên sắp xếp lại kế hoạch vốn để ưu tiên bố trí cho các dự án này, trường hợp đảm bảo được nguồn thu thì báo cáo ủy ban thường vụ Quốc hội cho phép sử dụng dự phòng để triển khai.

Thứ bảy, đại biểu Hàm đồng quan điểm báo cáo Chính phủ về giá trúng thầu là dùng khung giá dịch vụ làm cơ sở đấu thầu, tuy nhiên cần phải ghi rõ hợp đồng là hợp đồng trọn gói, không điều chỉnh trong suốt quá trình thực hiện để bảo đảm đúng cơ chế thị trường (lời ăn, lỗ chịu) và bảo đảm cho nhà đầu tư yên tâm về tính nhất quán của chính sách. Phương án này có rủi ro vì thực hiện trong thời gian dài nên đề nghị Chính phủ rà soát lại các số liệu dự báo để đảm bảo lợi ích cho nhà đầu tư nhưng không phương hại đến lợi ích của nhà nước (chúng ta đã có những dự án đang phải trả giá) đồng thời phải phù hợp với sức chịu đựng của nền kinh tế và người dân. Nếu xác định giá theo thị trường trên cơ sở chỉ số giá xây dựng theo từng thời kỳ thì phải xây dựng được chỉ số giá và hợp đồng điều chỉnh theo từng thời kỳ làm giảm ý nghĩa của việc đấu thầu và nhà đầu tư không yên tâm vì chính sách không ổn định.