Sẽ không sai nếu quan niệm đặc khu như “phòng thí nghiệm chính sách” ở đó sẽ có nhiều điều đặc biệt hơn bất cứ đâu trong lãnh thổ. Đương nhiên, đặc khu không phải “vô chính phủ” “ngoài luật pháp”.

Nhưng đặc khu phải là nơi có luật pháp, cơ chế đặc biệt dựa trên nền tảng quản lý vĩ mô chứ không phải vi mô. Như vậy đặc khu không cần quá nhiều cơ quan giám sát như Hội đồng nhân dân, Mặt trận và các đoàn thể.

Nhất quán quan điểm đặc khu phải đảm bảo toàn vẹn lãnh thổ, an ninh chính trị. Không để đặc khu là nơi kiếm chác thu vén lợi ích cá nhân, không là nơi để doanh nghiệp thao túng.

Trước hết phải xác định mở đặc khu để làm gì. Nếu để khai thác lợi thế kinh tế thì hệ thống chính sách phải tập trung vào hỗ trợ doanh nghiệp. Có thể coi những khu kinh tế, khu công nghiệp hiện nay như là một đặc khu thu nhỏ. Ở đó (KCN, KKT) không cần tổ chức quá nhiều ban bệ.

Để có đặc khu theo đúng nghĩa của từ này, những người làm chính sách phải mạnh dạn “xé rào”. Suy cho cùng đặc khu cũng là một vùng lãnh thổ trực thuộc có chức năng chuyên biệt tạo ra của cải vật chất cho xã hội.

Phối cảnh đặc khu Vân Đồn (Ảnh: internet)

Phối cảnh đặc khu Vân Đồn (Ảnh: internet)

Đặc khu không phải “tự tung tự tác” mà được quản lý theo cách khác hoàn toàn với những gì 713 quận huyện của 63 tỉnh thành đang làm. Ví dụ, một số việc phải báo cáo về tỉnh hoặc Trung ương chờ cho ý kiến thì trưởng đặc khu có thể “tiền trảm hậu tấu” và chịu hoàn toàn trách nhiệm.

Thay vì bộ máy như hiện nay, đặc khu có thể thành lập “Ban quản lý đặc khu”, đứng đầu là Trưởng ban, các Phó ban phụ trách mỗi lĩnh vực tùy theo loại hình doanh nghiệp có mặt trong đặc khu, có tổ chức đảng lãnh đạo chủ trương chính sách.

Mô hình Ban quản lý tuyệt nhiên không thể sao chép từ đặc khu này áp vào đặc khu kia. Ví dụ, đặc khu có thế mạnh dịch vụ du lịch thì đội ngũ chuyên viên có chuyên ngành này phải đông đảo hơn những ngành khác. Không “chia đều” biên chế theo vị trí việc làm.       

Cần quy hoạch đặc khu theo hướng chuyên môn hóa ngành nghề đầu tư, có đặc khu du lịch dịch vụ, đặc khu chế biến, sáng tạo. Một mặt đảm bảo gọn gàng dễ quản lý mặt khác tránh phát sinh nhiều cơ quan đầu mối.

Về con người, đội ngũ “chuyên viên” có thể là chuyên gia giỏi, làm việc theo chế độ hợp đồng với mức lương đặc biệt. Vì để vận hành cơ chế đặc thù cần có con người đặc biệt.

Người đứng đầu đặc khu được giao nhiều quyền hành hơn so với người quản lý đơn vị hành chính đồng cấp. Có thể ký quyết định hoặc rút giấy phép đầu tư nếu xét thấy doanh nghiệp đủ hoặc thiếu năng lực đầu tư.

Về mặt phương pháp tổ chức đặc khu giống như “thả gà ra đuổi”, “gà” nuôi thả rất chóng lớn nhưng để tránh mất cắp thì hệ thống giám sát, quản lý phải chuyên nghiệp, sâu sát hơn. Sự “chuyên nghiệp” và “sâu sát” ở đây không đi kèm với thành lập quá nhiều ban bệ gây chồng chéo chức năng nhiệm vụ.

Hiện tại, thành lập các đặc khu có lợi về nhiều mặt. Chúng ta đang đổi mới, sắp xếp lại bộ máy nhà nước, các đặc khu hoàn toàn có thể đóng vai trò là “phòng thí nghiệm”. Qua quá trình áp dụng có thể điều chỉnh thay đổi mà không gây xáo trộn. Một khi có mô hình ưu việt nhất thì mang đi áp dụng những nơi khác.

Đặc khu là mô hình hành chính – kinh tế đặc biệt nên sớm triển khai. Trên thế giới nhiều quốc gia đã thành công rực rỡ như Singgapore, Trung Quốc. Việt Nam có thể học hỏi kinh nghiệm.