(DĐDN)- bui ngoc son copyTuyên bố Kuala Lumpur 2015 về "Thành lập Cộng đồng ASEAN" với sự chứng kiến của các nhà lãnh đạo các nước đối tác, đối thoại của ASEAN và Tổng Thư ký LHQ sáng 22/11 vừa qua là một dấu mốc quan trọng trong tiến trình liên kết và hội nhập ASEAN trong suốt gần nửa thế kỷ qua.

Giờ đây, Asean đã vươn lên trở thành một cộng đồng liên kết chặt chẽ trên cả 3 trụ cột là: Chính trị-an ninh, kinh tế và văn hóa-xã hội, với vị thế ngày càng cao ở cả khu vực và thế giới. Trong đó, Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) là trụ cột chính. Vậy cấp độ của AEC cũng như tác động như thế nào tới Việt Nam?

asean-va-aec2

AEC - nhìn từ cấp độ liên kết cộng đồng

Có nhiều cấp độ liên kết kinh tế, trong đó cộng đồng kinh tế (economic community) được xem là cấp độ cao nhất với các đặc trưng: tự do thương mại, di chuyển vốn, đầu tư, lao động trong môi trường nhất thể hóa luật pháp, quản trị nhà nước, ngân sách, tài chính ngân hàng với một đồng tiền chung. Mô hình Cộng đồng Kinh tế châu Âu được xem là mô hình cao hình trên thực tế hiện nay.

Xét theo định nghĩa này, thì AEC đang ở vào trình độ khá thấp. AEC chủ yếu chỉ là sự liên kết, hợp tác giữa các chính phủ trong ASEAN trong việc mở cửa và tự do hóa nhiều hơn đối với thương mại, đầu tư và di cư lao động trong nội khối. Người ta chưa thấy các quy tắc, các cơ chế vận hành chung, thống nhất, và người ta cũng chưa thấy cơ quan nào ASEAN được thành lập để chịu trách nhiệm pháp lý vận hành các quy tắc, cơ chế này.

Tóm lại, AEC chưa có quy tắc, cơ chế chung, chưa có cơ quan vận hành chung, chưa có chính sách chung về thương mại, tài chính, tiền tệ, ngân hàng, chưa có đồng tiền chung, luật pháp và tòa án chung. Các cam kết vẫn chưa mang tính ràng buộc pháp lý rõ ràng. Nói cách khác, AEC đơn giản chỉ là sự liên kết giữa các quốc gia trong việc mở cửa kinh tế. Để tiến tới cộng đồng kinh tế thực sự, AEC còn rất nhiều việc phải làm.

Để làm được việc này AEC phải đối mặt rất nhiều trở ngại vì đây là một khu vực hàm chứa rất nhiều khác biệt về chính trị, trình độ phát triển, thể chế, văn hóa, tôn giáo, và cả sự phức tạp trong kết nối giao thông. Chẳng hạn, chỉ riêng việc thống nhất các thủ tục hải quan, một điều kiện tối quan trọng cho phát triển thương mại nội khối, vẫn chưa hoàn thành.

Trình độ liên kết ở mức thấp như vậy gợi ý rằng mức độ tác động hay vai trò làm thay đổi phát triển kinh tế nội khối nhờ AEC sẽ là không lớn.

Một số tác động của AEC đến Việt Nam

AEC tuyên bố có bốn mục tiêu và cũng là bốn yếu tố cấu thành AEC bao gồm:

Thứ nhất, một thị trường đơn nhất và cơ sở sản xuất chung, được xây dựng thông qua: Tự do lưu chuyển hàng hoá; Tự do lưu chuyển dịch vụ; Tự do lưu chuyển đầu tư; Tự do lưu chuyển vốn và Tự do lưu chuyển lao động có tay nghề.

Thứ hai, một khu vực kinh tế cạnh tranh, được xây dựng thông qua các khuôn khổ chính sách về cạnh tranh, bảo hộ người tiêu dùng, quyền sở hữu trí tuệ, phát triển cơ sở hạ tầng, thuế quan và thương mại điện tử.

Thứ ba, phát triển kinh tế cân bằng, được thực hiện thông qua các kế hoạch phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) và thực hiện sáng kiến hội nhập nhằm thu hẹp khoảng cách phát triển trong ASEAN.

Thứ tư, hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu, được thực hiện thông qua việc tham vấn chặt chẽ trong đàm phán đối tác và trong tiến trình tham gia vào mạng lưới cung cấp toàn cầu (WTO).

Thực chất, chỉ có mục tiêu đầu tiên là rõ ràng và mang tính hành động, thực tế. Các mục tiêu còn lại chỉ mang tính mục tiêu, định hướng.

Để có đánh giá mức độ tác động hay vai trò của AEC, chúng ta sẽ xem xét tác động của AEC, đối với ASEAN nói chung và đối với VN nói riệng, trong ba lĩnh vực cơ bản được nêu ra trong mục tiêu đầu tiên đó là: thương mại, đầu tư và di cư lao động nội khối.

Đối với thương mại

Trên thực tế, thương mại nội khối chỉ chiếm khoảng trên 20% tổng kim ngạch của khối nói chung, cũng như của VN. Hơn nữa, các nước trong khối cũng là thành viên của WTO, nên việc mở rộng thương mại nhờ AEC cũng không tạo ra nhiều khác biệt hay đột phá lớn trong việc khuyến khích thương mại nội khối. Theo tính toán của ADB thì nhờ AEC, Việt Nam có thể tăng thêm xuất khẩu khoảng 16% và nhập khẩu tăng thêm khoảng 12%.

Tuy nhiên, sự gia tăng này chỉ đạt được nếu các cải cách thực sự thủ tục giao thương được thực hiện, và mọi rào cản khác phải được loại bỏ. Tuy nhiên, như đã thấy, tình hình này vẫn chưa có tiến triển trên thực tế.

Hơn nữa, VN ở trình độ kinh tế thấp hơn một số nước, và lại đang áp dụng chế độ tỷ giá neo vào đôla cứng nhắc, kéo dài, làm cho đồng VN đồng cao giá, rất có thể sẽ biến VN thành nơi tiêu thụ hàng hóa công nghiệp của nước khác trong khi lợi ích thu về từ xuất khẩu sẽ biệt thiệt hại.

Đối với đầu tư

Lĩnh vực đầu tư FDI cũng cho thấy đầu tư nội khối chiếm tỷ trọng rất thấp trong dòng đầu tư FDI có nguồn gốc từ ASEAN. Tổng dòng FDI của ASEAN (trong nội khối và ngoại khối) chỉ chiếm 17,9%. Phần còn lại 82% dòng FDI là ra bên ngoài khối. Trong khi đầu tư FDI từ ASEAN vào VN lại chiếm tỷ trọng lớn trong tổng FDI vào VN. Tính đến cuối năm 2014 dòng FDI từ ASEAN vào VN chiếm 21,4 phần trăm tổng FDI vào VN, với mức tổng lên tới 52,34 tỷ đôla. Singapore đứng đầu tiếp theo là Malaysia, Thái Lan...

Hơn nữa, đầu tư của Singapore chủ yếu là vào lĩnh vực khách sạn, du lịch, khu vui chơi sinh thái, khu công nghiệp Việt Nam -Singapore, trong khi FDI từ Malaysia thì chủ yếu tập trung các liên doanh với các công ty sở hữu nước ngoài hoạt động trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng, bất động sản, giáo dục và dầu khí. Thái Lan thì đầu tư vào lĩnh vực bán lẻ và một phần đi vào sản xuất đồ nhựa.

Điều này cho thấy sức hút dòng FDI trong nội bộ ASEAN không lớn. Và đối với VN, việc hưởng lợi từ đầu tư FDI vào khối là không tăng nhiều, trong khi dòng FDI từ trong nội khối vào VN có thể tăng lên đáng kể.

Đối với di cư lao động

Trong khối ASEAN thì Singapore, Malaysia và Thái Lan là những nước nhận nhiều lao động nước ngoài nhất (nhận thuần) trong khi các nước như VN, Phillippine, Campuchia và Lào là những nước xuất khẩu thuần lao động.

Các nước Singapore, Malaysia và Thái Lan được cho là đang bước vào giai đoạn phát triển cao hơn, nhu cầu về lao động kỹ năng cao đang tăng trong khi nguồn cung lại chưa được đáp ứng. Đây là một yếu tố tốt đối với lao động ở các nước phát triển kém hơn, có thu nhập kém hơn. Tuy nhiên, việc thiếu đào tạo kỹ năng và thủ tục visa chưa thống nhất vẫn sẽ là trở ngại cho sự gia tăng di cư lao động trên thực tế.

Chẳng hạn ở VN, nhiều ngân hàng hay công ty nước ngoài thiếu lao động kỹ năng. Trong khi họ không thể tìm được trên thị trường lao động VN thì họ gặp rất nhiều khó khăn trong việc nhập khẩu loại lao động này từ bên ngoài vì các thủ tục nhập cư dạng này hiện vẫn rất phức tạp. Hiện tượng này vẫn được xem là khá phổ biến ở các nước khác. Vấn đề này phức tạp vì nó liên quan đến cả các khía cạnh chính trị, tôn giáo, văn hóa.... Trong khi đó, người ta chưa thấy một quy trình cho phép nhập cư lao động thống nhất, đơn giản trong khối, mặc dù AEC đã được công bố hình thành. Chừng nào, điểm nghẽn này không được giải quyết thì tiềm năng về gia tăng di cư lao động vẫn chưa thể trở thành hiện thực.

Như vậy, có thể nói, trình độ liên kết kinh tế AEC chưa cao, và vẫn hạn hẹp trong những lĩnh vực chủ yếu: thương mại, đầu tư, di cư lao động. Tác động của AEC, do đó, đối với phát triển kinh tế khu vực chưa có nhiều đột phá. Để thu được lợi ích từ AEC, các nước ASEAN nói chung và VN nói riêng cần phải có những hành động cụ thể hơn, cải cách mạnh mẽ hơn trên thực tế theo hướng thông thoáng, nhất thể hóa các qui tắc vận hành, và phải thiết lập được cơ quan điều hành chung có quyền lực pháp lý thực sự.

Ngày 28/7/1995, lá cờ đỏ sao vàng tung bay trên bầu trời Brunei trong buổi lễ kết nạp Việt Nam vào Hiệp hội các quốc gia Ðông Nam Á (ASEAN). Sự kiện ghi dấu mốc quan trọng trong tiến trình hội nhập khu vực và thế giới của Việt Nam cũng như quá trình phát triển của Hiệp hội..

Năm 1998, VN đã đảm nhận nghĩa vụ đầu tiên của một thành viên với việc tổ chức Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 6, chủ trì xây dựng và thông qua Chương trình Hành động Hà Nội (HPA) triển khai Tầm nhìn ASEAN 2010 cũng như đề ra các biện pháp ứng phó với các vấn đề nảy sinh sau khủng hoảng tài chính khu vực, để lại dấu ấn tốt đẹp đầu tiên của Việt Nam trong ASEAN.

Năm 2000, theo luân phiên, VN tiếp tục đảm nhiệm vai trò Chủ tịch Ủy ban thường trực ASEAN (2000 - 2001) khóa 34. Đề xuất và thông qua, Tuyên bố Hà Nội về Thu hẹp khoảng cách phát triển, cụ thể hoá Sáng kiến Liên kết ASEAN (IAI) đẩy mạnh phát triển đồng đều, bền vững trong ASEAN.

VN được đánh giá là một thành viên tích cực, có trách nhiệm trong việc phát triển ASEAN, trong đó có việc xây dựng các văn kiện đưa ASEAN liên kết và phát triển. Trong đó phải kể tới các văn kiện như: Tuyên bố Hòa họp Bali II năm 2003, Chương trình Hành động Vientiane (VAP) năm 2004, Hiến chương ASEAN năm 2007, Lộ trình xây dựng Cộng đồng ASEAN 2009-2015, Kế hoạch Công tác Sáng kiến Liên kết ASEAN…

Năm 2010, VN đã thực hiện xuất sắc nhiệm vụ Chủ tịch ASEAN, đây cũng được xem là năm bản lề trong kế hoạch xây dựng Cộng đồng ASEAN vào 2015. VN đã thúc đẩy hợp tác ASEAN với chủ đề “Hướng tới cộng đồng ASEAN: Từ tầm nhìn đến hành động”. VN đưa ra sáng kiến mở rộng Cấp cao Đông Á (EAS) để kết nạp thêm Mỹ và Nga, lần đầu tiên tổ chức Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN mở rộng (ADMM+)…

Trong giai đoạn 2011 – 2012, VN đã có đóng góp quan trọng trong tuyên bố về Cộng đồng ASEAN trong Cộng đồng các quốc gia toàn cầu (Tuyên bố Hoà hợp Bali II) năm 2011, Tuyên bố về các nguyên tắc quan hệ cùng có lợi của Cấp cao năm 2012, khởi động đàm phán Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện khu vực (RCEP)... thông qua chương trình hành động thực hiện Tuyên bố về quan hệ đối tác chiến lược ASEAN - Trung Quốc 2011 - 2015, các Nguyên tắc hướng dẫn thực hiện Tuyên bố về ứng xử của các bên trên Biển Đông (DOC) xây dựng các thành tố cơ bản của Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC)

Ngày 22/11/2015, tại Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 27 tại KualaLumpur, Malaysia, các nhà lãnh đạo ASEAN đã ký Tuyên bố Kuala Lumpur2015 về "Thành lập Cộng đồng ASEAN" với sự chứng kiến của các nhà lãnh đạo các nước đối tác, đối thoại của ASEAN và Tổng Thư ký LHQ.Đây là sự kiệnmang tính lịch sử, công bố chính thức với thế giới về sự hình thành Cộng đồng ASEAN2015, thành tựu to lớn của quá trình liên kết và hội nhập ASEAN trong suốt gần nửa thế kỷ qua. Dịp này, các nhà lãnh đạo ASEAN cũng thông qua Tầm nhìn Cộng đồng ASEAN 2025 mang tên “Vững vàng cùng tiến bước”, hướng tới một Cộng đồng thống nhất, hòa bình, ổn định và cùng chia sẻ sự phồn vinh.

Quốc Anh tổng hợp

Bùi Ngọc Sơn

Viện Kinh tế và Chính trị Thế giới