(DĐDN) - Khác với những năm trước, Nghị quyết 19-2017/NQ-CP được ban hành sớm hơn nhiều, ngay trong ngày làm việc đầu tiên của năm Đinh Dậu, thể hiện quyết tâm lớn của Chính phủ trong việc cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Tuy nhiên…

Đến tháng 12/2016, có 35 giải pháp thực hiện Nghị quyết19/2016 đã có kết quả, chiếm tỷ lệ 42,2%

Theo TS Nguyễn Đình Cung, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế trung ương - một trong những người đóng góp lớn vào sự ra đời của cả 4 phiên bản Nghị quyết 19, từ năm 2014 đến nay - NQ 19/2017 đặt mục tiêu đến hết năm 2017 , Việt Nam sẽ đạt tối thiểu bằng trung bình của các nước ASEAN 4 trên các chỉ tiêu về môi trường kinh doanh. Thừa nhận đây là một mục tiêu đầy tham vọng, ông Cung nói, ông lo nhất vẫn là khâu triển khai thực hiện, đặc biệt là sự thông suốt dọc - ngang: từ trung ương đến địa phương và trong tất cả các bộ, ngành. TS Cung cũng không ngần ngại nói thẳng, đôi khi lối mòn tư duy chính là lực cản cực lớn cho những nỗ lực đổi mới.

Địa phương chưa vì lợi ích chung?

Nghị quyết 19-2016 xác định 13 nhóm nhiệm vụ, giải pháp chung và 83 nhiệm vụ riêng cho các bộ, cơ quan, địa phương. Đến tháng 12/2016, có 35 giải pháp được thực hiện và có kết quả (chiếm tỷ lệ 42,2%); 19 giải pháp đã được thực hiện, nhưng chưa có kết quả rõ ràng (chiếm 22,9%) và 29 giải pháp chưa được thực hiện (chiếm 34,9%).

Tính chung, tỷ lệ hoàn thành nhiệm vụ của các bộ, ngành mới đạt 42%. Nhưng ngay trong số những chỉ tiêu đã đạt, như Chỉ số Cấp phép xây dựng và các thủ tục liên quan của Việt Nam đã có thứ hạng tốt trong khu vực (vị trí 24/190), chỉ sau Malaysia (thứ 13) và Singapore (thứ 10), song thời gian thực hiện lại rất dài, tới 166 ngày, cao hơn nhiều so với mức trung bình ASEAN 4 (82 ngày).

Đúng như TS Nguyễn Đức Kiên, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội nhận xét, Nghị quyết 19 có thể là cú hích cho cỗ xe đang trì trệ, nhưng nếu chỉ bằng lực đẩy thì chiếc xe cũng không thể chạy nhanh về phía trước. “Nghị quyết mới đề ra 250 chỉ tiêu thuộc 20 nhóm, lĩnh vực; đã cụ thể hơn các nghị quyết trước khá nhiều, nhưng vẫn chưa khoanh định được những lĩnh vực và thứ tự công việc ưu tiên gắn liền với trách nhiệm cá nhân của người đứng đầu các bộ, ngành, địa phương”, ông Kiên nhận xét.

Vai trò của các địa phương không chỉ là mờ nhạt mà trong một số trường hợp còn đi ngược lại với xu thế chung. Chẳng hạn Nghị quyết số 148/2016/NQ-HĐND ngày 13/12/2016 của Hội đồng Nhân dân thành phố Hải Phòng về thu phí sử dụng công trình kết cấu hạ tầng, công trình dịch vụ, tiện ích công cộng trong khu vực cửa khẩu cảng biển, thực hiện từ 1/1/2017. Doanh nghiệp cho rằng, quy định mới của Hải Phòng thực ra là đặt ra thêm loại phí mới chồng chéo với nhiều loại phí khác mà họ đang phải trả, lại không cho doanh nghiệp thời gian chuẩn bị. TS Vũ Tiến Lộc, Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) phát biểu: “Đây là “bước lùi” của chính sách.

CCI lo ngại hành động này của Hải Phòng sẽ tạo ra tiền lệ nguy hiểm để các địa phương có cảng biển và sân bay đặt ra các loại phí mới gây bất lợi cho doanh nghiệp”. Động thái này của Hải Phòng được coi là trái với quy định hiện hành về thủ tục hải quan, khiến Tổng cục Hải quan phải ban hành văn bản yêu cầu Cục Hải quan Hải Phòng không được yêu cầu doanh nghiệp nộp hoặc xuất trình các chứng từ, giấy tờ khác ngoài các chứng từ trong bộ hồ sơ hải quan.

Danh sách ngành nghề thực hiện độc quyền nhà nước thể hiện một tư duy cấm đoán đã lỗi thời

Bộ ngành nhiều khi cũng rối

Dĩ nhiên nói như vậy không có nghĩa là vướng mắc chỉ nằm ở địa phương. Dự thảo đề xuất tăng thuế bảo vệ môi trường đánh vào mặt hàng xăng của Bộ Tài chính vừa qua cũng gây ra những phản ứng trái chiều. Nhiều ý kiến cho rằng về nguyên tắc thì đây là việc cần thiết, nhưng lẽ ra cần đưa ra sớm hơn nhiều và phải có lộ trình phù hợp; bộc lộ điểm yếu cốt tử lâu nay trong khâu xây dựng phương án cụ thể để triển khai thực hiện chính sách.

Tương tự, dự thảo Nghị định độc quyền nhà nước trong hoạt động thương mại vừa được Bộ Công thương trình lên Chính phủ, theo đó, sẽ có 20 ngành nghề cấm tư nhân tham gia (xem bảng). Thẳng thắn góp ý về nội dung cụ thể của danh sách này, luật gia Nguyễn Minh Đức (Ban Pháp chế, VCCI) cho rằng có nhiều, thậm chí hầu hết số ngành nghề trong danh sách trên không có lý do gì để nhà nước phải giữ độc quyền. “Tôi hoàn toàn không hiểu tại sao lại phải cấm tư nhân làm dịch vụ tìm kiếm cứu nạn”, ông Đức nêu một ví dụ cụ thể. Trong một số trường hợp khác, các ngành nghề được nêu còn khá chung chung, rất dễ bị diễn giải theo hướng gây khó dễ cho doanh nghiệp tư nhân.

Chưa bàn đến tính hợp lý của các ngành nghề cụ thể được đưa vào danh sách, song TS Nguyễn Đình Cung tỏ ra “dị ứng” mạnh với tên gọi của bản danh sách này. “Nó thể hiện một tư duy cấm đoán đã lỗi thời. Tôi rất ngạc nhiên là Bộ Công Thương vừa qua đã có một số quyết định khá mạnh mẽ theo hướng cởi mở, gỡ bỏ rào cản cho thị trường phát triển, thì nay lại đem trình một văn bản lạ kỳ như vậy”, ông Cung bày tỏ quan điểm.

Rõ ràng, để tinh thần của Nghị quyết 19 “thấm” đến tất cả các bộ, ngành, địa phương và chuyển hóa thành hành động cụ thể còn là một chặng đường dài và không hề bằng phẳng

Cẩm Hà