Ngày 5/6, Bộ trưởng Bộ Lao động Thương binh Xã hội Đào Ngọc Dung đã đăng đàn trả lời chất vấn của đại biểu Quốc hội.

Theo đó, các đại biểu Quốc hội quan tâm tới thực trạng thị trường lao động ở Việt Nam hiện nay, vấn đề giải quyết việc làm trong nước và đưa lao động Việt Nam ra nước ngoài làm việc theo hợp đồng, các giải pháp nâng cao chất lượng dạy nghề, dạy nghề theo đơn đặt hàng của doanh nghiệp và theo nhu cầu xã hội…

Trong đó đáng lưu ý là vấn đề chất lượng, năng suất lao động. Đòi hỏi yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp, mà năm 2018 là năm mở đầu tạo đột phá. 

Chất lượng nhân lực hiện đang "lệch" so với nhu cầu.

Chất lượng nhân lực “lệch” nhu cầu

Bộ trưởng Đào Ngọc Dung nhấn mạnh, nguồn nhân lực góp vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội. “Chất lượng nguồn nhân lực thấp cũng là nguyên nhân khiến năng suất lao động thấp. Trong khi đó, cơ cấu đào tạo nghề còn bất hợp lý. Chất lượng đào tạo chưa đáp ứng các yêu cầu về kỹ năng, thu nhập...”, Bộ trưởng nhấn mạnh.

Chia sẻ với DĐDN PGS.TS. Nguyễn Thị Lan Hương, Nguyên Viện trưởng Viện Khoa học Lao động - Xã hội cho biết, nhiều điều tra khảo sát cho thấy đa số doanh nghiệp đánh giá chất lượng nhân lực hiện chỉ ở mức trung bình. 

“Doanh nghiệp cho biết đang thiếu hụt nhiều chuyên môn kỹ thuật bậc trung, bậc cao như cao đẳng, Đại học lại không thiếu vì số lượng đòi hỏi không nhiều. Công nhân kỹ thuật bậc trung, đào tạo từ cao đẳng xuống trung cấp nghề mới là lực lượng doanh nghiệp quan tâm nhất”, bà Lan Hương nói.

Bởi, theo phản hồi từ doanh nghiệp, chất lượng đào tạo nhân lực chưa đảm bảo khiến lao động yếu từ kiến thức tới kỹ năng, mà đặc biệt là kỹ năng thực hành. Cùng với đó, cam kết của người lao động khi họ có trình độ tay nghề cam kết không cao khiến doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn trong thu hút và giữ lực lượng này.

“Trên thực tế, hệ thống dạy nghệ chưa có uy tín, tỉ lệ phân luồng thấp gần 2.000 cơ sở thu hút khoảng 1trieu8, chiếm dướii 10% số học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông hàng năm. Doanh nghiệp hiện vẫn dựa vào chính lực lượng tự đào tạo”, bà Hương cho biết. 

Có thể thấy, câu chuyện về chất lượng nguồn nhân lực thấp đã có nhiều hệ luỵ khiến năng suất lao động của Việt Nam bị đánh giá “đội sổ” trong khu vực. Báo cáo kinh tế Việt Nam 2035 cũng chỉ rõ mối quan ngại số một của Việt Nam chính là năng suất lao động. Về dài hạn, muốn tăng trưởng bền vững phải nâng cao năng suất lao động. Năng suất lao động chính là mấu chốt cho mọi vấn đề của tăng trưởng.

Hay mới đây, Báo cáo Thường niên của Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR) cho thấy, năng suất lao động của 9 nhóm ngành của Việt Nam đang ở mức gần hoặc thấp nhất trong các nước Đông Bắc Á và ASEAN. Cụ thể, năng suất lao động Việt Nam chỉ bằng 1/18 của Singapore, 1/6 của Malaysia, 1/3 của Thái Lan và Trung Quốc, thậm chí thua cả Campuchia.

Cần cơ chế khuyến khích cơ sở đào tạo tư nhân

Trước thực trạng đó, Bộ trưởng Đào Ngọc Dung cho biết, Bộ Lao động Thương binh Xã hội đưa giáo dục nghề nghiệp là ưu tiên hàng đầu, qua đó để góp phần chuyển dịch, nâng cao năng suất lao động.

Ba vấn đề Bộ Lao động đặc biệt quan tâm gồm quy hoạch lại toàn bộ mạng lưới, chuyển mạnh sang tự chủ và kết nối doanh nghiệp - nhà trường. Đây là chủ trương mà nhiều quốc gia đã áp dụng thành công, như Đức, Singapore, Nhật Bản... Từ năm 2018, Bộ Lao động liên kết với 15 trường và đào tạo theo đơn đặt hàng, gắn với thị trường.

Nhận định về những nhóm vấn đề này, bà Lan Hương cho rằng đây là đường hướng tốt, trong đó đặc biệt là giải pháp kết nối doanh nghiệp nhà trường. Theo Nguyên Viện trưởng Viện Khoa học Lao động - Xã hội, kết nối là vấn đề quan trọng, thậm chí là yêu cầu cấp thiết hiện nay. Tuy nhiên, để đạt được việc kết nối liên kết cần phụ thuộc vào nhiều yếu tố.

Phân tích theo từng nhóm của mô hình liên kết cơ sở đào tạo, bà Lan Hương cho biết, nhóm một là mô hình trường trong doanh nghiệp, tức doanh nghiệp tự thành lập trường đào tạo nhân lực cho doanh nghiệp mình. “Đây là mô hình đảm bảo nhân lực đúng yêu cầu của doanh nghiệp, nhưng còn nhiều tồn tại bởi tính phụ thuộc ngân sách vào công ty mẹ. Cùng với đó các quy chuẩn về giáo viên, chứng chỉ còn chưa được đảm bảo”, bà Lan Hương nhận định.

Thứ hai là mô hình kết nối, doanh nghiệp tham gia đào tạo kép, xây dựng các chương trình đào chuỗi từ lý thuyết của cơ sở đào tạo đến thực hành tại doanh nghiệp, bà Hương cho rằng đây mô hình tốt cần được đẩy mạnh. Tuy nhiên cần có cơ sở pháp lý cho việc đảm bảo liên kết của mô hình này còn bỏ ngỏ và hiện mới chỉ hạn chế một số ngành nghề.

Nhóm thứ ba là tiếp nhận học sinh đi học nghề. Bên cạnh đó còn có mô hình xây dựng hội đồng tư vấn nghề, hội đồng về nghề nghiệp.

Do đó, trả lời câu hỏi làm sao đảm bảo tính liên kết, đào tạo chất lượng nhân lực đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp, hướng tới đào tạo theo “đơn đặt hàng” của doanh nghiệp, Nguyên Viện trưởng Viện Khoa học Lao động - Xã hội kiến nghị, để đạt được mục tiêu Bộ đề ra, cần tiến hành rà soát mạng lưới dạy nghề, tăng cường cơ sở dạy nghề tư nhân.

“”Hiện không có nhiều cơ sở dạy nghề tư nhân có “tiếng nói” vì cơ sở vật chất không nhiều, thương hiệu chưa có. Tuy nhiên, trong tương lai cơ sở dạy nghề tư nhân phải là nòng cốt đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp. Trên thực tế khi Nghị định về tự chủ ra đời tạo bình đẳng nhưng khiến những cơ sở đào tạo nghề công lập khó khăn. Do đó, xây dựng mạng lưới đào tạo mà nòng cốt là các cơ sở đào tạo tư nhân là đòi hỏi tất yếu của phát triển”, PGS.TS. Nguyễn Thị Lan Hương nhấn mạnh.