Cổ phần hóa DNNN: Chấp nhận trả giá để đột phá

Cổ phần hóa DNNN: Chấp nhận trả giá để đột phá

25/09/2015 9:25 Sáng

(DĐDN) – Còn hơn 3 tháng nữa là hết năm 2015 nhưng đến thời điểm này mới có 1/3 DN cổ phần hóa. Vì sao tiến trình cổ phần hóa lại chậm và liệu 2/3 số DN còn lại của 395 DN có cổ phần được trong năm 2015 như chỉ đạo của Thủ tướng?

DĐDN đã có cuộc trao đổi với TS Lưu Bích Hồ – Nguyên Viện trưởng Viện Chiến lược Bộ KH&ĐT xung quanh vấn đề này?

CPHDNNN3a1TS Lưu Bích Hồ nhấn mạnh: Theo số liệu của Bộ Tài chính công bố, trong số 228 DN còn lại phải cổ phần hóa thì 44 DN đã có quyết định công bố giá trị DN trong quý 3/2015 phải hoàn thành phê duyệt kế hoạch cổ phần hóa; 127 DN đang tiến hành xác định giá trị thì phải cố gắng trong tháng 9/2015 công bố và quý 4 hoàn thành phê duyệt phương án CPH, hiện còn 57 DN vẫn chưa triển khai.

– Theo ông, đâu là nguyên nhân chính dẫn tới việc cổ phần hóa chậm?

Vướng mắc được tập trung chủ yếu khu vực nhà nước như: tài sản, nợ không rõ ràng, quản trị DN yếu, thiếu minh bạch.  Ngoài ra, do  TTCK vẫn còn khó khăn; sự thiếu quyết liệt của một số bộ, ngành; DN chưa rõ nhận thức về sự cần thiết quan trọng của việc CPH, thay đổi quản trị DN… Đặc biệt, tiến độ thoái vốn ngoaiài ngành của các “ông lớn” còn chậm…

– Thoái vốn ngoài ngành đã được Chính phủ chỉ đạo thực hiện từ lâu, nhưng sao vẫn ì ạch, thưa ông?

Như chúng ta đã biết, trong giai đoạn bùng nổ 2006 – 2008,  các tập đoàn kinh tế Nhà nước đã đem hàng chục nghìn tỷ đồng đi đầu tư bên ngoài lĩnh vực cốt lõi, chủ yếu là ngân hàng, chứng khoán, bất động sản. Khi kinh tế rơi vào suy thoái, các khoản đầu tư này bỗng chốc trở thành “trái đắng”… Mới đây nhất, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) đứng trước nguy cơ mất trắng hàng trăm tỷ đồng do khoản đầu tư vào Ocean Bank. Oceanbank có vốn điều lệ 4.000 tỷ đồng, trong đó PVN góp 800 tỷ (khoảng 20%) và đã bị NHNN mua lại với giá 0 đồng. Rồi PVN đang “mắc kẹt” 1.167 tỷ đồng ngoài ngành. Các khoản đầu tư này đang được xem xét báo cáo Chính phủ cho lùi thời hạn thoái vốn sau 2015 để tiếp tục tái cơ cấu, có như vậy mới bảo toàn được vốn Nhà nước.

Một ông lớn khác là Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) cũng từng điêu đứng vì đầu tư ngoài ngành. Đơn vị này từng có lượng vốn đầu tư ngoài ngành chiếm 3,27% vốn chủ sở hữu tập đoàn, tương đương 2.100 tỷ đồng vào 4 lĩnh vực nhạy cảm gồm bất động sản, bảo hiểm, ngân hàng và tài chính…

Cho đến nay, 6 tháng đầu năm 2015, các tập đoàn, TCty đã thoái được 3.368 tỷ đồng khỏi 5 lĩnh vực nhạy cảm (bất động sản, chứng khoán, ngân hàng, bảo hiểm, quỹ đầu tư), mới đạt 15% số vốn cần phải thoái.

Không chỉ tác động trực tiếp đến kết quả kinh doanh, hiện tại đa số các DN đã rút ra bài học và không dám đầu tư ngoài ngành tràn lan, nên điều quan trọng lúc này là cần tháo gỡ cho những khoản vốn đang “mắc kẹt”.  Theo tôi phải xem từng  DN cụ thể, nếu trường hợp nào có thể thoái được thì quyết liệt, còn lại phải có giải pháp tháo gỡ. Nếu  DN nào chỉ thoái được một phần cũng nên chấp nhận…

– Indonesia từng rơi hoàn cảnh giống VN – đó là tiến trình CPH chậm do ách từ khâu thoái vốn ngoài ngành, và họ lập ra hẳn một bộ chuyên trách xử lý. Theo ông, Việt Nam có nên áp dụng cách làm này?

Ở Việt Nam hiện nay dù chưa có bộ chủ quản riêng biệt nhưng việc mua bán, thoái vốn khu vực DNN tạm thời được trao cho SCIC quản lý…

Có lẽ, chúng ta phải chấp nhận hy sinh, trả giá và bằng mọi cách tạo ra sự đột phá trong việc cải cách mới có thể đẩy nhanh tiến độ thoái vốn cũng như cổ phần hóa khu vực các tập đoàn, DNNN lớn…

Hiện nay nhiều cán bộ khu vực DNNN chưa thực sự có năng lực, đây sẽ là điểm yếu kéo DN đi xuống. Do đó, việc truy cứu trách nhiệm các lãnh đạo không hoàn thành tốt nhiệm vụ, làm thất thoát vốn, theo tôi là bình thường vì sai thì phải xử lý.

Tuy nhiên, đây cũng là bài học để cơ quan Nhà nước giám sát, quản lý chặt chẽ hơn các cán bộ được giao. Qua đó, Nhà nước cũng phải tăng cường giám sát người đại diện vốn, vì đây chính là những cá nhân nắm rõ tiền đầu tư đi đâu, đầu tư như thế nào.

– Thưa ông, nghị quyết số 15/NQ-CP ngày 06/3/ 2014 của Chính phủ về một số giải pháp đẩy mạnh cổ phần hóa, thoái vốn Nhà nước tại DN góp phần đảm bảo thực hiện được tiến độ cổ phần hóa mà Chính phủ đặt ra. Vậy theo ông, đâu là giải pháp giúp khu vực này thoái vốn nhanh thoát khỏi “vũng lầy” đầu tư ngoài ngành?

Hiện có có ba cách thức để “thoái vốn”: Cách thức thứ nhất: DNNN có thể tự tìm cách bán phần vốn ấy, thậm chí thoái vốn đầu tư dưới mệnh giá hoặc dưới giá trị sổ sách kế toán của DN sau khi đã trừ đi khoản dự phòng tổn thất các khoản đầu tư tài chính theo quy định và trên cơ sở phương án thoái vốn đã được chủ sở hữu xem xét, quyết định

Cách thức thứ hai: việc thoái vốn tại các Cty đầu tư tài chính, các ngân hàng thương mại của các Tập đoàn kinh tế, TCty nhà nước, có thể giao các ngân hàng thương mại Nhà nước mua lại hoặc chuyển NHNN làm đại diện chủ sở hữu.

Cách thức thứ ba: TCty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước xem xét, mua lại các khoản đầu tư ngoài ngành, lĩnh vực sản xuất kinh doanh chính của các Tập đoàn kinh tế, TCty Nhà nước, Cty 100% vốn Nhà nước vào lĩnh vực bảo hiểm, ngân hàng sau khi đã thực hiện các biện pháp nêu tại Nghị quyết này mà thoái vốn không thành công và các lĩnh vực khác theo chức năng, nhiệm vụ được giao. Giá mua được xác định theo giá thị trường nhưng không cao hơn giá trị trên sổ sách kế toán trừ đi khoản dự phòng giám giá đầu tư đã được trích lập đầy đủ theo quy định.

– Trường hợp cụ thể áp dụng với từng cách thức mà ông vừa nêu?

Theo tôi, cách thức thứ nhất hoàn toàn có thể áp dụng thuận tiện, DN tự bán phần vốn của mình khi TTCK khởi sắc thì việc thoái vốn sẽ dễ dàng hơn. Tuy nhiên có một lý do quan trọng ảnh hưởng đến việc thoái vốn mà từ trước đến nay DNNN luôn tìm cách hoãn không muốn thoái vốn ngoài ngành là do sợ mất vốn Nhà nước, bởi vì đa số giá trị tài sản đã đầu tư hiện nay đều đã thấp hơn giá trị sổ sách và dưới mệnh giá rất nhiều.

Chúng ta phải chấp nhận hy sinh, trả giá và bằng mọi cách tạo ra sự đột phá trong việc cải cách mới có thể đẩy nhanh tiến độ thoái vốn cũng như CPH khu vực các tập đoàn, DNNN lớn.
Trong trường hợp DNNN thoái vốn không thành công thì cách thức thứ hai được áp dụng. Đó là phần vốn đầu tư ngoài ngành có thể bán cho NHTM. Tuy nhiên, có một số ý kiến lo ngại liệu các NHTM Nhà nước có muốn mua không khi chính các NHTM cũng có thể có những khoản đầu tư ngoài ngành phải rút vốn và room để cho phép các ngân hàng này mua có thể không còn nhiều. Bởi vì, theo Điều 129 Luật Các tổ chức tín dụng, NHTM chỉ được phép đầu tư vào DN trong ngành tối đa lên đến 40% vốn điều lệ. Đây cũng là một hạn chế gặp phải khi thoái vốn ngoài ngành của các  ông lớn khu vực DNNN.

Cách thức thứ ba được áp dụng khi DNNN thoái vốn không thành công và NHTM và NHNN không mua lại phần thoái vốn của DNNN thì các khoản thoái vốn không thành công, sẽ giao TCty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước mua lại. Với cách thức này,  theo tôi có những hạn chế nhất định vì TCty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước cũng đang phải thoái vốn các khoản đầu tư đang nắm giữ. Hơn nữa năng lực quản lý của SCIC cũng có giới hạn, việc SCIC sẽ mua lại khoản đầu tư ngoài ngành của các Tập đoàn kinh tế, TCty có thể khiến cho tỷ lệ cổ phần do Nhà nước nắm giữ không giảm vì phần vốn nhà nước chỉ chuyển từ các DNNN này sang đơn vị chủ quản khác thuộc nhà nước.

Thực tế trong bối cảnh hiện nay, rất nhiều khoản đầu tư ngoài ngành không hiệu quả, càng để lâu sẽ càng lỗ lớn, thất thoát lớn. Do vậy, việc thoái vốn nhanh sẽ giúp lấy một phần tiền để bù lại đồng thời, có thể giúp giảm lỗ và tăng nguồn tiền cho ngân sách, thay vì phải phát hành trái phiếu hoặc vay nợ.

– Xin cám ơn ông!

CPHDNNN3a2

Ông Đặng Quyết Tiến – Phó Cục trưởng Cục Tài chính DN, Bộ Tài chính:

Cần kiên quyết thay thế lãnh đạo DN không quyết tâm cổ phần hóa

Thừa nhận, tiến độ CPH DNNN so với cùng kỳ năm ngoái thì nhanh nhưng tính theo kế hoạch thì còn “khiêm tốn.” Nguyên nhân của sự chậm trễ trong CPH DNNN thời gian qua là do thị trường chứng khoán vẫn còn khó khăn, sự thiếu quyết liệt của một số bộ, ngành, DN chưa rõ nhận thức về sự cần thiết quan trọng của việc cổ phần hóa, thay đổi quản trị DN. Do vậy, trong quá trình bán cổ phần các DNNN, các Bộ, ngành vẫn giữ số phần vốn Nhà nước tối thiểu tại các DN này ở mức 51%, có nơi 65%, 75% thậm chí 97%. Chính vì giữ phần vốn Nhà nước trong DNNN nhiều, khiến sau cổ phần hóa, cơ chế điều hành, cách quản trị vẫn như cũ dù có hội đồng quản trị, song với ít cổ phần hơn, các nhà đầu tư sẽ mất tiếng nói và những quyết sách quan trọng. Đây là nguyên nhân khiến cho các nhà đầu tư không mặn mà khi DNNN chào bán.

Thời gian thực hiện cổ phần hóa không còn nhiều, do đó, để đẩy nhanh việc cổ phần hóa, các giải pháp quan trọng khác là tăng cường tuyên truyền, kiểm tra, gắn trách nhiệm các cơ quan quản lý nhà nước trong đôn đốc, tháo gỡ khó khăn cho DN… Nếu những giải pháp đó đưa ra mà DN không thực hiện thì cần kiên quyết thay thế lãnh đạo DN không quyết tâm, chần chừ.

Chúng tôi sẽ tham mưu lãnh đạo Bộ Tài chính báo cáo Chính phủ hàng tháng, quý, về cổ phần hóa sắp xếp DN và cố gắng hết năm 2015 sẽ hoàn thành cổ phần hóa hết DN. Bởi lẽ, chính sách đã đủ, vấn đề quan trọng còn lại là thực hiện. Cùng với đó, sẽ đôn đốc, giám sát nêu tên DN, bộ ngành chậm sắp xếp, cổ phần hóa. Chúng tôi sẽ mời từng bộ đến làm việc và cùng nhau xử lý các vướng mắc. Nếu có vướng mắc nào thì tháo gỡ một loạt để sau này họ không kêu được nữa.

Cần thành lập Ủy ban thoái vốn đầu tư ngoài ngành

CPHDNNN3a3

Chuyên gia tài chính Nguyễn Trí Hiếu:

Chúng ta đã nhìn thấy rõ sự hoạt động không hiệu quả của khu vực DNNN nhất là các TCty, các Tập đoàn kinh tế khi đầu tư ngoài ngành quá lớn và dàn trải… Và thực hiện việc thoái vốn đầu tư ngoài ngành là một vấn đề trọng tâm trong việc tái cơ cấu DNNN có thành công hay không. Với sức ép thực tế như hiện nay thì vấn đề này lại càng trở nên cần thiết và rất “nóng” nhưng thực hiện và kiểm soát ra sao vẫn là bài toán khó hiện nay.

Chúng ta cũng cần rà soát và có báo cáo cụ thể để xây dựng lộ trình thoái vốn, đặc biệt với những ngành quan trọng như điện, ngân hàng, tài chính. Trong bối cảnh TTCK hiện nay, nếu ồ ạt thoái vốn có thể gây ra đổ vỡ lớn, chưa kể một số khoản đầu tư của các tập đoàn, TCty đang lỗ. Việc thoái vốn của các tập đoàn, TCty phải đi kèm với việc cải tổ, tái cơ cấu.

Đồng thời, cần thành lập một ủy ban quốc gia về thoái vốn đầu tư ngoài ngành, với sự tham gia của đại diện NHNN và các bộ, ngành. Cơ quan này có chức năng giám sát, thẩm định bổ trợ cho việc thoái vốn giữa các tập đoàn, TCty Nhà nước với các đối tác và ngân hàng. Ngoài ra, dù Nghị quyết 15 của Chính phủ cho phép việc thoái vốn của các tập đoàn, TCty Nhà nước có thể giao các ngân hàng thương mại mua lại hoặc chuyển NHNN làm đại diện chủ sở hữu, nhưng các DN nên chủ động tìm kiếm đối tác để bán cổ phần, cổ phiếu của mình. Giải pháp này sẽ giúp tăng vốn chủ sở hữu, vừa giảm gánh nặng cho ngân hàng. Bởi lẽ hiện nay, khối ngân hàng cũng đang trong quá trình tái cấu trúc lại hoạt động của mình.

P.Hà, M.Thanh ghi

Phương Hà
thực hiện

Tags :

Bài viết đã chặn phản hồi!

Tin khác đã đăng