GDP quý 3/2018 của Trung Quốc chỉ đạt 6,5% so với cùng kỳ năm ngoái, mức thấp nhất từ quý 1/2009, những lo ngại về “núi nợ” hay bóng đen chiến tranh thương mại đang bao trùm gần đây không làm thay đổi thực tế là quy mô nền kinh tế Trung Quốc đã tăng thêm 30% trong vòng 5 năm dưới sự lãnh đạo của ông Tập Cận Bình (2013 – 2017).

Nguồn Tổng cục Hải quan

Nguồn Tổng cục Hải quan

Kinh tế Trung Quốc qua lát cắt

Trái ngược với hình ảnh “làm thuê cho thế giới”, Trung Quốc hiện nay thể hiện hình ảnh “nhà giàu mới nổi” – tiêu dùng xa xỉ hơn và vung tiền ra bên ngoài nhiều hơn.

Trung Quốc đang vươn lên trở thành quốc gia cung cấp tín dụng phát triển lớn nhất thế giới. Về viện trợ chính thức (ODA), trong giai đoạn 2003- 2017, chi tiêu cho đối ngoại của Trung Quốc đã tăng bình quân 14,5%/năm. Chỉ trong 5 năm đầu dưới sự lãnh đạo của ông Tập Cận Bình, chi cho ODA của Trung Quốc đã đạt 8 tỷ USD, tăng tới 60% so với 10 năm lãnh đạo của ông Hồ Cẩm Đào. Trung Quốc hiện chiếm 10% nguồn vốn đầu tư trực tiếp ra bên ngoài của toàn thế giới. Là bạn hàng thương mại lớn nhất của 124 quốc gia và khu vực, với quy mô ngoại thương đạt 4.000 tỷ USD, tương đương GDP của nền kinh tế lớn thứ ba thế giới.

Đây cũng đồng thời là một người khổng lồ đang điều chỉnh và có nhiều nhược điểm trong quan hệ đối ngoại. Trong nửa năm qua, mối quan tâm của các nước về quan hệ Mỹ - Trung phần lớn tập trung vào chiến tranh thương mại. Tuy nhiên, cuộc chiến thương mại chỉ là khởi đầu của một cuộc cạnh tranh chiến lược mà Mỹ xác định Trung Quốc là đối thủ hàng đầu. Cả Mỹ và Trung Quốc hiện đang ráo riết chạy đua trong việc thiết kế luật chơi mới và lôi kéo đồng minh.

Trong thời gian tới, việc phân quyền mạnh hơn cho khu vực kinh tế tư nhân và tập quyền về tay chính quyền trung ương là một hướng đi cần tiến hành mạnh mẽ hơn.

Chỉ trong 5 năm dưới sự lãnh đạo của ông Tập Cận Bình, Trung Quốc đã nhanh chóng có một diện mạo mới trong cuộc chơi thiết lập ảnh hưởng trên phạm vi toàn cầu. Với các luật chơi/thể chế sẵn có, Trung Quốc đang tận dụng các “sân chơi” này theo hai cách để tối đa hoá ảnh hưởng của mình. Thứ nhất là tham dự vào nhiều cơ chế đa phương hơn bất cứ thời kỳ nào trước đó. Thứ hai là đóng vai trò thúc đẩy, truyền động lực cho các cơ chế đa phương cũ, chẳng hạn như thúc đẩy đàm phán RCEP. Bên cạnh đó, Trung Quốc cũng đã tự xây dựng và vận động cho nhiều cơ chế đa phương mới do mình dẫn dắt như Ngân hàng Đầu tư cơ sở hạ tầng châu Á (AIIB), Ngân hàng phát triển của các nước BRICS (NDB), sáng kiến “Vành đai và Con đường” (BRI), Hợp tác Mekong – Lan Thương (LMC), FTA khu vực châu Á- Thái Bình dương (APFTA).

Cần thể chế ưu việt hơn

Nhiều chuyên gia cho rằng, các quốc gia láng giềng của Trung Quốc cần một thể chế ưu việt hơn nước này để phát triển vững mạnh và không lo bị lấn lướt. Nhìn vào cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung có thể thấy cạnh tranh trong thế kỷ hiện nay là cạnh tranh về áp đặt luật chơi và chuẩn mực. Đó thực sự là một cuộc cạnh tranh mềm và có nhiều lợi ích lan toả cho các nước không có ưu thế về vốn, công nghệ như Việt Nam.

Có ba nhóm thể chế mà Việt Nam cần hướng tới: Thứ nhất, Việt Nam cần sửa đổi các luật chơi, thể chế kém hiệu quả hiện nay. Trong hàng loạt các thể chế thiếu hiệu quả, cấu trúc quyền lực giữa trung ương và địa phương là điều cần cải thiện nhiều nhất. Tình trạng cấu trúc nhà nước cát cứ, manh mún là hệ quả của việc thiếu rõ ràng trong phân cấp, phân công quyền hạn và trách nhiệm giữa các cơ quan Trung ương với nhau và giữa Trung ương với địa phương. Điều đó đã và đang tạo nên tính trì trệ và thiếu hiệu quả trong hoạch định và thực thi chính sách. Việt Nam hiện trong tình trạng cần phân quyền thì phân quyền không đầy đủ (chẳng hạn quan hệ giữa doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân), nơi cần tập quyền thì tập quyền nửa vời (chẳng hạn quan hệ trung ương và địa phương). Bởi vậy, trong thời gian tới, việc phân quyền mạnh hơn cho khu vực kinh tế tư nhân và tập quyền về tay chính quyền trung ương là một hướng đi cần tiến hành mạnh mẽ hơn.

Thứ hai, Việt Nam cần tận dụng việc hội nhập để thử nghiệm các thể chế mới hiệu quả hơn. Hiệp định EVFTA đã được Ủy ban châu Âu thông qua, Việt Nam cũng ở lại với CPTPP, đó đều là những sân chơi vừa đòi hỏi, vừa cho phép Việt Nam thử nghiệm những luật chơi mà các quốc gia đang xây dựng. Việc là thành viên thế hệ đầu đã giúp Việt Nam vượt xa Trung Quốc. Không có bất kỳ FTA nào mà Trung Quốc đang thực thi, hay đã kết thúc đàm phán lại có các cam kết về thể chế mới mạnh dạn như Việt Nam. Chỉ cần không lặp lại sai lầm của WTO, Việt Nam sẽ đi xa và nhanh hơn Trung Quốc trong cuộc chơi mới.

Cuối cùng, thiết lập các thể chế mới mang tính thời điểm và đặc thù. Ai cũng biết đầu tư do Trung Quốc tiến hành vừa kém về chất lượng, vừa là bẫy nợ đầy rủi ro. Nhưng Việt Nam hầu như không có cách nào tránh được rủi ro này. Kết quả là tiền mất, niềm tin của người dân vào Chính phủ giảm, chỉ doanh nghiệp Trung Quốc được lợi. Đáng lưu ý, cơ chế quyết định cấp phép đầu tư hiện đang do các địa phương tự nắm giữ. Sự lỏng lẻo này trong bối cảnh Trung Quốc bành trướng về cho vay và đầu tư là một “tử huyệt” của nền kinh tế. Việt Nam có thể cần một loại luật chơi đặc thù phù hợp với tình hình mới – chẳng hạn như thành lập Uỷ ban Quản lý đầu tư nước ngoài của Việt Nam có quyền lực lớn hơn quyền hành của Bộ Kế hoạch - Đầu tư để thẩm định các dự án trọng điểm liên quan đến an ninh quốc gia.