(DĐDN) - Phân tích những tác động của hội nhập tới kinh tế, GS TS Trần Việt Dũng - Trưởng Khoa Luật Quốc tế, Đại học Luật TP HCM - Cố vấn pháp lý cao cấp Cty Victory LLC cho rằng: Các khoản hỗ trợ của VN đối với DN cần hết sức cẩn trọng để tránh bẫy “thuế đối kháng”.

cantrongvoi13a1Trong thực tiễn thương mại quốc tế việc phân biệt giá quốc tế có thể diễn ra bởi nhiều lý do khác nhau. Bên cạnh trường hợp DN tự thực hiện việc bán phá giá nhằm chiếm lĩnh thị trường nước ngoài, giá bán của hàng hóa cũng có thể bị bóp méo do những chính sách trợ cấp của chính phủ nước xuất khẩu (XK). Thực trạng này có tác động tiêu cực tới ngành sản xuất nội địa của nước nhập khẩu (NK). Luật thương mại quốc tế công nhận thực trạng này và cho phép các nước thành viên áp dụng thuế bổ sung với hàng nhập khẩu – “thuế đối kháng” - nhằm triệt tiêu tác động của các trợ cấp mà chính phủ nước ngoài dành trực tiếp hay gián tiếp cho các DN xuất khẩu. Trong khuôn khổ hệ thống thương mại của WTO, các nước thành viên có thể áp dụng biện pháp thuế đối kháng phải đảm các tuân thủ các quy tắc và quy trình điều tra nhất định để chứng minh về nguồn gốc và tác động của hàng nhập khẩu được trợ cấp. Hiệp định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng (SCM) quy định nước NK sẽ phải chứng minh ba yếu tố: sự tồn tại của một khoản trợ cấp chính phủ cho hàng nhập khẩu, thiệt hại hoặc nguy cơ gây thiệt của hàng nhập khẩu được trợ cấp cho ngành sản xuất nội địa và mối quan hệ nhân quả giữa hàng nhập khẩu bị điều tra và thiệt hại cho ngành sản xuất nội địa.

Trợ cấp chính phủ

Trợ cấp chính phủ được hiểu là các khoản đóng góp tài chính hoặc lợi ích kinh tế đặc biệt của chính phủ hay cơ quan công quyền dành cho các DN hoặc ngành sản xuất trong nước nhằm đạt một hay một số mục tiêu kinh tế hoặc xã hội nhất định. Trợ cấp chính phủ có thể tồn tại dưới nhiều hình thức trực tiếp như chuyển khoản trực tiếp hoặc chuyển vốn hoặc nhận nợ. Nó cũng có tồn tại ở mức độ gián tiếp hơn như miễn hoặc gia hạn cho các DN một số nghĩa vụ tài chính hoặc các khoản thu theo quy định của pháp luật (miễn thuế); hay cung cấp hàng hoá và dịch vụ không phải là hạ tầng cơ sở hoặc mua hàng trực tiếp của DN.

Như vậy, để chứng minh sự tồn tại của một khoản trợ cấp phải xác định DN được hưởng một khoản lợi ích mang tính riêng biệt từ các cơ quan nhà nước. Khoản hỗ trợ này thường sẽ có thể tìm thấy trong các chính sách quân bình, phân phối lại thu nhập và chính sách thuế của chính phủ. Lợi ích mang lại cho các ngành công nghiệp hoặc DN được đánh giá trên hai khía cạnh chính sách thuế, chính sách vay và các khoản hỗ trợ trực tiếp.

Tính riêng biệt chính là lợi ích được trao cho các ngành công nghiệp hoặc DN cụ thể. Việc xác định tính riêng biệt có thể căn cứ vào quy định của pháp luật giới hạn việc trợ cấp một cách công khai hoặc căn cứ vào các yếu tố tồn tại trên thực tế. Các khoản trợ cấp gắn liền với XK bất kể nó được gọi như thến nào thì sẽ đều bị coi là có tính riêng biệt.

Điều tra áp dụng biện pháp đối kháng

Trong khuôn khổ WTO thuế đối kháng chỉ có thể được áp dụng căn cứ trên cơ sở kết quả điều tra đã được bắt đầu và tiến hành phù hợp với các quy định của Hiệp định SCM. Việc điều tra đối kháng sẽ phải được khởi đầu trên cơ sở quyết định của cơ quan chức năng hoặc hồ sơ khiếu kiện của chủ thể đại diện cho ngành sản xuất trong nước. Tuy nhiên, trên thực tế các cơ quan chức năng của các nước thường sẽ rất hạn chế tự ra quyết định điều tra vì tránh trường hợp bị coi là “vừa đá bóng vừa thổi còi”.

Đơn đề nghị đó phải bao gồm những bằng chứng về sự tồn tại của khoản trợ cấp, thiệt hại vật chất và mối quan hệ nhân quả giữa tác động của hàng NK được trợ cấp với thiệt hại tới ngành công nghiệp nội địa. Việc xác định thiệt hại phải được thực hiện trên cơ sở cả khối lượng nhập khẩu hàng có trợ cấp và tác động của nhập khẩu được trợ cấp đối với giá cả trên thị trường trong nước của sản phẩm tương tự cũng như tác động tiếp theo của việc nhập khẩu đó với các ngành sản xuất trong nước của các sản phẩm đó.

Trong thời gian điều tra để hạn chế ảnh hưởng tiêu cực trong cạnh tranh của hàng hoá được trợ cấp trong quá trình điều tra, cơ quan chức năng của nước NK có thể áp dụng biện pháp tạm thời dưới hình thức thuế đối kháng tạm thời. Các biện pháp tạm thời không được áp dụng trước quá 60 ngày, kể từ ngày bắt đầu điều tra; đồng thời chỉ được áp dụng trong khoảng thời gian tối đa là 120 ngày.

Cam kết giá

Theo quy định của Hiệp định SCM, thủ tục điều tra trợ cấp để áp dụng thuế đối kháng có thể bị đình chỉ hay chấm dứt khi các bên liên quan đồng ý cam kết

loại bỏ hoặc hạn chế trợ cấp hoặc khi DN xuất khẩu đồng ý xem xét lại giá bán của hàng hoá sao cho biện pháp trợ cấp không còn gây ra thiệt hại.

Thuế đối kháng là một hình thức thuế NK bổ sung mà nước NK có thể áp dụng nhằm mục đích nhằm triệt tiêu các lợi thế nhân tạo từ các khoản ưu đãi hay trợ cấp dành cho DN XK.Việc tăng giá theo các cam kết này của DN XK không cần cao quá mức cần thiết để triệt tiêu khối lượng trợ cấp. Cơ quan chức năng thuế đối kháng có thể chấp nhận mức tăng giá thấp hơn khối lượng trợ cấp nếu thấy đã thích đáng để khắc phục thiệt hại gây ra cho ngành sản xuất trong nước. Tuy nhiên việc một bên đơn phương cam kết chấm dứt chính sách trợ cấp không đồng nghĩa với việc thụ tục điều tra tự động chấm dứt hoặc đình chỉ. Khi cam kết được chấp nhận, cơ quan chức năng vẫn có thể tiếp tục thủ tục điều tra. Trong trường hợp cuộc điều tra đi đến kết luận ngược lại đối với trợ cấp và sự tổn hại, bản cam kết sẽ tự động mất hiệu lực. Trong trường hợp xác định là có trợ cấp và tổn hại thì cam đoan vẫn tiếp tục có hiệu lực, theo những điều khoản của nó và các quy định của Hiệp định SCM.

Thời hạn áp dụng thuế đối kháng

Thuế đối kháng là một biện pháp phòng vệ thương mại mang tính tạm thời, chỉ có thể áp dụng trong khoảng thời gian và trong chừng mực cần thiết để đối kháng lại việc trợ cấp đang gây ra thiệt hại. Về nguyên tắc biện pháp thuế đối kháng phải chấm dứt sau 5 năm được áp dụng. Tuy nhiên, thời hạn này có thể được kéo dài hơn trong trường hợp nước NK có lý do để tin rằng việc chấm dứt áp dụng thuế đối kháng có khả năng làm cho trợ cấp và thiệt hại tiếp diễn hoặc tái diễn. Trong thời gian chờ kết luận của việc xem xét đó, nước NK có thể tiếp tục duy trì thuế đối kháng. Trong thời gian áp dụng thuế đối kháng cơ quan chức năng của nước NK sẽ xem xét lại nhu cầu có tiếp tục đánh thuế đối kháng không, khi tự mình thấy cần hoặc theo yêu cầu của bên có quan tâm khi có bằng chứng thực tế chứng minh nhu cầu cần xem xét lại việc đánh thuế.

Tuy nhiên, Hiệp định SCM dành một quy chế ưu đãi đặc biệt và thuận lợi hơn cho những nước đang phát triển liên quan tới những quy định về trợ cấp bị cấm, biện pháp phòng ngừa, giải quyết tranh chấp, biện pháp đối kháng... Chẳng hạn một số nước kém phát triển nhất của WTO được hoàn toàn miễn phải chịu trách nhiệm pháp lý khi thực hiện những các biện pháp trợ cấp.

GS TS Trần Việt Dũng