Ông Sâm cho biết, quy hoạch tổng thể phát triển VLXD đến 2020 tầm nhìn 2030 dự báo nhu cầu cát xây dựng đến 2020 của cả nước khoảng 130 triệu m3; tổng công suất thiết kế của các cơ sở khai thác, chế biến cát xây dựng đạt khoảng 130-150 triệu tấn/năm.

- Quy hoạch dự báo vậy, nhưng theo Vụ Vật liệu xây dựng, Bộ Xây dựng, nhu cầu sử dụng cát hàng năm hiện nay đã đạt ngưỡng 130 triệu m3/năm, thưa ông?

Sự gia tăng nhanh chóng về nhu cầu sử dụng cát xây dựng những năm qua khiến mất cân đối cung cầu. Một nguyên nhân quan trọng nữa dẫn đến sự khan hiếm cát xây dựng thời gian qua do chính quyền các địa phương siết chặt quản lý khai thác cát theo quy hoạch.

Hơn nữa, nguồn cung cát xây dựng hiện nay phân bố không đồng đều giữa các vùng trên cả nước. Cát có thể xây dựng chủ yếu tập trung tại khu vực phía Bắc, khu vực phía Nam trữ lượng tài nguyên cát ít hơn, trong khi phần lớn cát xây dựng trên thị trường hiện nay là cát khai thác tự nhiên từ các lòng sông, lượng cát nhân tạo hiện chưa nhiều.

Theo quy hoạch phát triển VLXD, đến năm 2020 lượng cát xây dựng khai thác, chế biến tại khu vực Trung du miền núi phía Bắc đạt 18 triệu m3, Đồng bằng sông Hồng đạt 66 triệu m3, Bắc Trung bộ và Duyên hải miền Trung 21 triệu m3, Tây nguyên 5 triệu m3, Đông Nam bộ 9 triệu m3, ĐBSCL 11 triệu m3. Thực tế này, dẫn tới giá cát xây dựng các khu vực phía Nam luôn cao hơn khu vực phía Bắc vì phải cộng thêm chi phí vận chuyển.
Bên cạnh đó, việc phát triển hàng loạt đập thủy điện thời gian qua đã ngăn chặn khiến sự bồi lắng, cát về hạ du ngày càng ít.

- Như ông đã nói ở trên, sự khan hiếm cát xây dựng cục bộ thời gian qua một phần nguyên nhận là do chính quyền các địa phương cấm không cho tiêu thụ cát ngoài tỉnh. Tuy nhiên, cách thức quản lý này bị nhiều ý kiến không đồng tình bởi vật liệu xây dựng không thuộc ngành kinh doanh có điều kiện, thưa ông?

Mới đây, tại một số tỉnh thành phố của miền Trung như Quảng Ngãi, Phú Yên hoặc miền Nam như An Giang ra văn bản tạm dừng, rà soát lại quy trình cấp phép, khai thác, vận chuyển. Những động thái này của chính quyền địa phương rõ ràng là “ngăn sông cấm chợ”.

Vì Luật Khoáng sản và các văn bản hướng dẫn liên quan không có dòng nào cấm DN thông thương hàng hóa, nhất là khi kinh doanh, khai thác cát không nằm trong danh mục ngành nghề kinh doanh có điều kiện. Thừa nhận rằng, giá cát có thể lên cao, nhưng nguyên nhân sâu xa của nó không xuất phát từ vấn đề các DN khai thác cát được tự do mua - bán trong hay ngoài tỉnh. Muốn chặn đà tăng giá cát, nguồn cung cát đủ hơn, phải làm cách khác.

- Theo ông chính quyền phải dùng cách gì?

Chính quyền các địa phương cần tạo ra các chính sách khuyến khích DN sản xuất nguyên liệu xây dựng thay thế cát tự nhiên.

Ở phía Nam một số tỉnh có thể khai thác đá để chế biến cát là Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa - Vũng Tàu, Kiên Giang, An Giang... Các địa phương này đều có những mỏ đá lớn có thể nghiền ra để làm cát nhân tạo. Loại cát nhân tạo chế biến từ đá này đã được nghiên cứu và công bố tiêu chuẩn quốc gia từ năm 2012 (TCVN 29205/2012).

Một số nguồn nguyên liệu khác có thể chế biến thành cát nhân tạo đó là nguồn phế thải xây dựng như gạch vỡ, vật liệu xỉ lò cao, vữa cũ... cũng là cách giảm áp lực lên cát tự nhiên.

-Trên thực tế, nguồn tài nguyên cát nhiễm mặn của chúng ta rất lớn. Vậy, với công nghệ hiện nay chúng ta có thể chuyển cát nhiễm mặn thành cát xây dựng, thưa ông?

Mới đây, Viện VLXD đã nghiên cứu chất kết dính hỗn hợp trong bê tông sử dụng nước biển và cát biển nhiễm mặn và đã có kết quả, nhưng mới chỉ là thành quả nghiên cứu bước đầu. Bên cạnh đó, cũng có DN nghiên cứu loại phụ gia khử muối để sử dụng trong bê tông cốt thép có nước biển và cát biển. DN này đã làm thí điểm thành công khi xây dựng bờ kè biển Cần Giờ, TPHCM từ năm 2014. Như vậy, về công nghệ hoàn toàn có thể chuyển cát nhiễm mặn thành cát xây dựng, nhưng về hiệu quả kinh tế cần tính toán thêm.
- Xin cảm ơn ông!