Bên lề Hội nghị Cấp cao APEC hồi giữa tháng 11/2017, có một sự kiện rất đáng lưu ý: đó là các Bộ trưởng TPP, trừ Mỹ, đã nhất trí sẽ tham gia một Hiệp định mới, có tên là Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ Xuyên Thái Bình Dương (CPTPP - Comprehensive and Progressive Trans Pacific Partnership). Điều này hẳn là một yếu tố có thể làm thay đổi bức tranh ngoại thương của Việt Nam năm 2018 và những năm tới. Nhưng “đêm 30 chưa phải là Tết” và cho đến khi hiệp định được ký kết chính thức thì hãy khoan bàn đến nó.

Kỷ lục kim ngạch xuất khẩu trong năm 2017

Theo số liệu mới nhất của Tổng cục Hải quan giữa tháng 12/2017, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của cả nước trong 11 tháng/2017 đạt 385,77 tỷ USD, tăng 21,4% tương ứng tăng hơn 67,9 tỷ USD so với cùng kỳ năm 2016. Trong đó, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của doanh nghiệp FDI đạt 253,24 tỷ USD, tăng 23,2%, tương ứng tăng hơn 42,83 tỷ USD so với cùng kỳ năm 2016.

Cụ thể, tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam đạt 194,47 tỷ USD, tăng 21,5% (tương ứng tăng hơn 34,44 tỷ USD) so với cùng kỳ năm 2016. Cùng kỳ, tổng kim ngạch nhập khẩu của cả nước đạt gần 191,3 tỷ USD, tăng 21,2% (tương ứng tăng 33,49 tỷ USD) so với cùng kỳ năm 2016. Như vậy, cán cân thương mại hàng hóa cả nước 11 tháng năm 2017 thặng dư 3,17 tỷ USD. Ước tính đến hết năm, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu cả nước sẽ vượt mốc 400 tỷ USD - con số mà Chính phủ đã báo cáo tại kỳ họp Quốc hội hồi cuối tháng 10 vừa qua, dù đây đã là mức cao kỷ lục.

Ước tính đến hết năm, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu cả nước sẽ vượt mốc 400 tỷ USD 

Trong đó, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam trong năm 2017 có thể sẽ đạt mức tăng trưởng cao nhất kể từ năm 2011 đến nay với mức tăng trưởng khoảng 18,9%, đạt 210 tỷ USD. Sự hồi phục của các dòng thương mại trong khu vực châu Á và nhu cầu nhập khẩu ở Bắc Mỹ tăng trở lại sau khi bị đình trệ trong năm 2016, cộng với việc các nền kinh tế lớn, đặc biệt là Trung Quốc, Hoa Kỳ và EU đều tăng trưởng khả quan, kéo theo sự gia tăng nhu cầu nhập khẩu và thúc đẩy thương mại trong khu vực đã tạo điều kiện để các ngành sản xuất trong nước tiếp tục mở rộng thị trường chủ lực và tìm kiếm các thị trường mới.

Trong khi đó, năng lực cạnh tranh hàng hóa của Việt Nam cũng được đánh giá tốt, đặc biệt là nông, thủy sản, linh kiện điện thoại, hàng dệt may... với những cải thiện đáng chú ý về lĩnh vực công nghệ và tính hiệu quả của thị trường lao động.

Các loại sản phẩm của Việt Nam hiện đã có mặt tại gần 200 quốc gia và vùng lãnh thổ. Ngoài những thị trường truyền thống, hàng hóa Việt Nam năm qua đã bước đầu xuất khẩu thành công vào một số nước châu Phi, châu Mỹ Latinh...

Ở chiều nhập khẩu cũng có những tín hiệu đáng mừng về đa dạng hóa thị trường nhập khẩu. “Bản đồ” nhập siêu của Việt Nam đã thay đổi, theo đó nhập siêu từ thị trường Trung Quốc đang chững lại và có xu hướng giảm dần, trong khi nhập siêu từ Hàn Quốc và các nước ASEAN tăng lên.

Năm 2018 và “sóng” giảm thuế

Động thái đáng lưu ý nhất đối với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu Việt Nam, nếu chưa tính đến CPTPP như đã nói, chính là làn sóng giảm thuế mạnh mẽ theo lộ trình đã cam kết. Bắt đầu từ năm 2015, hàng loạt mặt hàng nhập khẩu vào Việt Nam đã giảm thuế theo cam kết của các hiệp định thương mại tự do (FTA). Nhiều mặt hàng theo lộ trình giảm thuế nhanh hơn và thấp hơn so với cam kết WTO và Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi (MFN).

Nhưng giai đoạn 2018 - 2022, theo cam kết, lộ trình sẽ còn nhanh hơn với mức cắt giảm thuế sâu hơn nữa. Từ năm 2018, thuế nhập khẩu nhiều mặt hàng sẽ về 0%, những mặt hàng giữ thuế cũng sẽ giảm dần và xóa bỏ thuế quan vào năm 2022.

Theo ông Vũ Nhữ Thăng, Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế, Bộ Tài chính, làn sóng giảm thuế nhập khẩu trên đã được tính toán từ trước và sẽ không làm phát sinh tác động tiêu cực. Ở chiều ngược lại, thực hiện các cam kết FTA đồng nghĩa với những ưu đãi về thuế quan, doanh nghiệp trong nước cũng sẽ được lợi. Do đó, đầu vào nền kinh tế sẽ giảm, hiệu quả sản xuất kinh doanh tăng, dẫn tới tăng thu từ thuế nội địa, bù đắp cho giảm thu từ thuế nhập khẩu - quan chức này nhận định.

Đại diện một số doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh các mặt hàng xuất khẩu chủ lực như lúa gạo, dệt may… cũng cho biết, họ đã lên phương án chuẩn bị, nâng cao chất lượng sản phẩm để mở rộng thị trường xuất khẩu, song song với việc phát triển thị trường bán lẻ trong nước.

Thậm chí, ông Nguyễn Hoài Nam, Phó tổng Thư ký Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP) còn cho rằng, với cấu trúc nhập khẩu của ngành Thủy sản Việt Nam (hơn 80% sản lượng nhập khẩu về để sản xuất hàng xuất khẩu), số còn lại nhập về để gia công và tiêu thụ nội địa thì khi đẩy nhanh lộ trình giảm thuế nhập khẩu về 0% sớm hơn đối với một số mặt hàng thủy sản Việt Nam có thế mạnh về chế biến xuất khẩu như tôm và cá ngừ, doanh nghiệp Việt có lợi nhiều hơn…

Tuy nhiên, TS Võ Trí Thành, nguyên Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương (CIEM) vẫn tỏ ra thận trọng khi nhận định, nhập siêu tăng mạnh từ Hàn Quốc không phải là điều đáng lo ngại, vì nhập khẩu từ thị trường này tăng cao là do nhập khẩu máy móc phục vụ đầu tư và sản xuất hàng xuất khẩu. Song tình trạng nhập siêu tăng cao đối với một số nước trong khối ASEAN có tỷ trọng đáng kể là hàng tiêu dùng cho thấy năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt chưa cao, chưa đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng trong nước. “Trong bối cảnh Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộng, bằng việc ký kết nhiều FTA thế hệ mới với đối tác quan trọng như Mỹ, EU… Việt Nam phải chuyển nhập siêu sang các quốc gia có nền kinh tế phát triển, có công nghệ cao để “thay máu” nền kinh tế nếu không sẽ mãi chỉ là nước đi sau”, ông Thành nhấn mạnh.

Muốn vậy, các doanh nghiệp cần chủ động tăng cường năng lực quản trị, đổi mới chất lượng nguồn nhân lực, tìm được chỗ đứng cho mình trong chuỗi cung ứng toàn cầu để tận dụng mọi cơ hội do các cam kết hội nhập mang lại. Đó là những điều doanh nghiệp hẳn đã “thuộc nằm lòng”, nhưng thực hiện được lại chẳng dễ chút nào.