Ở Việt Nam hiện nay có khoảng 12 nghìn công ty FDI, phần lớn các doanh nghiệp này tập trung hoạt động trong các lĩnh vực như điện tử, dệt may... Các công ty này chỉ sử dụng 3% lực lượng lao động nhưng lại đóng góp 18% vào GDP và 70% lượng hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam. Nhiều doanh nghiệp đang hiện diện đầu tư tại Việt Nam là những công ty hàng đầu trên thế giới và không có gì ngạc nhiên khi khu vực FDI thể hiện sự năng động hơn, hay nói cách khác là có những đóng góp quan trọng vào sự phát triển kinh tế của Việt Nam.

- Nhưng sự phát triển của những DN FDI này không thể giúp VN phát triển bền vững khi không kéo khu vực DN tư nhân trong nước, đặc biệt là DNNVV phát triển, thưa ông?

Thừa nhận rằng, hiệu ứng lan tỏa về công nghệ và năng suất lao động từ các đối tác nước ngoài đến các DN trong nước còn rất hạn chế.

  Năng suất lao động bình quân của khu vực tư nhân chỉ bằng 10% so với khu vực FDI.

Thực tế, các DN trong nước, mặc dù sử dụng nguồn lao động lên đến 90% nhưng đóng góp vào GDP chỉ dừng lại ở mức 30% và các lĩnh vực hoạt động chủ yếu tập trung vào lĩnh vực nông nghiệp và phi thương mại.
Hơn nữa, năng suất lao động bình quân của khu vực tư nhân chỉ bằng 10% so với khu vực FDI. Điều này là do 97% doanh nghiệp trong nước là DNNVV với quy mô nhỏ.

- Vậy theo ông, làm thế nào để giảm khoảng cách giữa khu vực DN tư nhân và FDI, ít ra về mặt năng suất?
Để có thể đạt được năng suất lao động khu vực doanh nghiệp tư nhân trong nước cần thiết phải được tiếp cận vốn và công nghệ.

Những nghiên cứu và phân tích mới đây của nhóm các ngân hàng thế giới (WBG) cho thấy, trong ngành công nghiệp chế tạo, các doanh nghiệp Việt Nam khó có thể kết nối được với các doanh nghiệp FDI là do hạn chế về kỹ năng quản lý và khoảng cách công nghệ và chỉ số quản trị doanh nghiệp của Việt Nam xếp khá thấp so với các quốc gia khác như Mexico và Chile. Theo đó, các tiêu chuẩn về chất lượng, chi phí và chất lượng dịch vụ giao hàng là những rào cản đặc biệt của DNNVV trong việc trở thành đối tác cung cấp. Thêm nữa, điều tra cũng chỉ ra khả năng tiếp cận nguồn vốn cũng là một trong những khó khăn phổ biến của DNNVV mới thành lập, đặc biệt là trong ngành phần mềm điện tử. Nếu không có nguồn vốn doanh nghiệp khó bứt phá để trở thành nhà cung cấp.

- World Bank sẵn sàng hỗ trợ Việt Nam trong vấn đề này, thưa ông?

Tạo điều kiện cho khu vực tư nhân nói chung là DNNVV phát triển năng động và hiệu quả là một trong những điều kiện tiên quyết để Việt Nam duy trì tăng trưởng nhanh và toàn diện.
Rõ ràng quá trình này cần một chiến lược toàn diện và chi tiết. Điều này sẽ tạo ra một sân chơi bình đẳng cho tất cả các DN, cho dù họ là DN nhà nước, DN tư nhân hay DN FDI. Hiện nay Việt Nam đang có tình trạng nhiều DN FDI được hưởng lợi từ các ưu đãi thuế trong khi không phải DN trong nước nào cũng được như vậy. Với vai trò là người đứng đầu Ngân hàng thế giới tại Việt Nam, tôi khẳng định rằng: nhóm ngân hàng thế giới sẵn sàng hỗ trợ Chính phủ Việt Nam trong quá trình này.

Trong thời gian gần đây, World Bank đã phối hợp với Chính phủ Việt Nam để thực hiện chương trình đánh giá và hoạch định chính sách, bao gồm “Báo cáo Việt Nam 2035” và “Việt Nam ở ngã tư đường: tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu tiếp theo”. Đây chính là một nghiên cứu cụ thể về mối liên kết giữa DN trong nước và DN FDI. Trên cơ sở này, chúng tôi sẽ có những kế hoạch cụ thể về hỗ trợ kỹ thuật. Ngân hàng thế giới cũng cam kết hỗ trợ Chính phủ Việt Nam trong việc cải thiện môi trường pháp lý và môi trường kinh doanh nhằm nâng cao khả năng của các nhà cung cấp trong nước trong việc tham gia chuỗi giá và các lĩnh vực chiến lược. Bên cạnh đó, chúng tôi cũng luôn luôn sãn sàng tăng cường hợp tác trong lĩnh vực tài chính nhằm hỗ trợ Việt Nam trong việc thúc đẩy liên kết và phát huy tối đa tiềm năng của khu vực tư nhân đang ngày càng phát triển mạnh mẽ.

- Xin cảm ông.