Lần đầu tiên trong vòng 10 năm trở lại đây, lạm phát ở VN có tốc độ cao, lên tới 2 con số. Trong bối cảnh đó, nhiều NHTM đang trong tình trạng thiếu nội tệ, thừa USD.

Điều hành tiền tệ do đó đang đứng trước các lựa chọn khó khăn: NHNN hạn chế mua USD để kiềm chế cung tiền đồng trong điều kiện lạm phát ở thời điểm cuối năm 2007 là lẽ đương nhiên như do không áp dụng các giải pháp đồng bộ một cách chủ động ngay từ đầu và giữa năm nên đã vô hình trung đẩy nhiều NHTM vào tình trạng khó khăn trong thanh khoản VND, phải chấp nhận lãi suất vay VND qua đêm tăng đột biến.

Băn khoăn giữa hai dòng nước

Nếu vào những tháng cuối năm 2007, NHNN tiếp tục cung VND ra để ôm USD vào thì lại không đạt mục tiêu kiềm chế lạm phát vốn đã ở tình trạng báo động. Kiềm chế lạm phát vào thời điểm tháng 12/2007 phải được các cấp và đặc biệt là NHNN đặt làm nhiệm vụ hàng đầu, ưu tiên hơn mục tiêu tăng trưởng, nếu không sẽ dẫn đến những hậu quả kinh tê ë- xã hội chính trị khôn lường khi người dân nói chung và người hưởng lương nói riêng thấy thu nhập thực tế ngày càng giảm tuyệt đối ngay cả khi thu nhập bằng tiền có tăng.

Mới tính đến hết tháng 11, chỉ số giá tiêu dùng đã lên tới 9,45%. Trong tháng 12, tình hình càng căng thẳng hơn khi tính đến tác động của đợt tăng giá xăng, dầu và nhiều nhân tố cuối năm khác như một lượng cầu đáng kể sẽ tung vào thị trường do nhiều nguồn vốn đến kỳ đáo hạn, các quyết toán cuối năm tài chính từ khu vực DN, tổ chức kinh tế chi trả và thưởng cho người thụ hưởng... nên khả năng lạm phát cầm chắc 2 con số. Nguyên nhân gây ra tốc độ lạm phát ở mức cao này dường như lâu nay được nói nhiều bằng cách đổ lỗi quá mức cho các tác động từ mặt bằng giá thế giới, từ thiên tai, dịch bệnh. Nhưng tại sao các nước trong khu vực có cùng điều kiện giống VN lại không bị lạm phát cao như VN? Vậy chắc chắn có thể tìm thấy một nguyên nhân rất lớn ở công tác điều hành vĩ mô, còn cụ thể ở lĩnh vực nào thì cần các chuyên gia mổ xẻ... những quyết định quá mức cần thiết nhưng không hiệu quả từ ngân sách như bù giá vào xăng, vào điện, giảm thuế, giảm chi phí cho nhiều nhóm mặt hàng và huy động đông đảo các lực lượng để can thiệp hành chính làm méo mó các quy luật của thị trường.

Chính sách tiền tệ thì sao? Một NHNN quá lệ thuộc vào các quyết định tổng quát cũng như các quyết định từ Thủ tướng, Chính phủ, trong đó vị Thống đốc cũng là một thành viên của Chính phủ... thì có lẽ câu trả lời cho câu hỏi nói trên là quá nhạy cảm. Còn nếu để hi vọng tìm ra trách nhiệm cụ thể càng khó khăn hơn. Nếu đi tìm nguyên nhân lạm phát, lẽ ra thông thường theo cách phổ biến của nhiều nước, trước tiên phải tìm những khe hở của chính sách tiền tệ và năng lực điều hành chính sách tiền tệ của TNTƯ. Nhìn vào tình trạng thừa USD ở các NHTM hiện nay có thể thấy 3 hiện tượng sau: Thứ nhất, một số NHTM có thể lâm vào trạng thái thừa thật - theo nghĩa đen, biểu hiện ở số dư ngoại tệ lớn hơn trạng thái dư cho phép. Tuy diễn biến này chỉ xảy ra ở một số NH và nó báo hiệu rằng lượng USD vào VN năm 2007 là rất lớn. Biểu hiện thứ 2 là một số NH thừa ngoại tệ tương đối do cơ cấu dự trữ ngoại tệ bất hợp lý, trong khi thừa USD nhưng lại thiếu trầm trọng các ngoại tệ khác như Eur, Nhân dân tệ, Yên Nhật. Châu âu, Trung Quốc, Nhật Bản là những đối tác thương mại ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong cán cân xuất nhập khẩu của VN nhưng khi DN có nhu cầu các ngoại tệ ngoài USD thì NH lại hầu như không đáp ứng được. Thứ 3 là các NHTM nói chung còn thiên về việc sử dụng nghiệp vụ tín dụng ngoại tệ ngắn, trung và dài hạn, coi nhẹ các quan hệ mua đứt bán đoạn cũng như coi nhẹ việc sử dụng các công cụ phái sinh ngoại tệ. Cơ chế hoạt động như vậy khiến cho các NHTM trở thành nơi luôn bị động trong việc đáp ứng nhu cầu ngoại tệ khi DN đột xuất có nhu cầu, đột ngột xin mở L/C và vay thanh toán hàng nhập theo L/C, còn như tình hình hiện nay xét trong ngắn hạn thì NHTM lại đang là nơi cất giữ tiền hộ cho DN XK một cách bất hợp lý về cơ cấu ngoại tệ.

Nền kinh tế VN từ khi đổi mới vẫn là một nền kinh tế nhập khẩu. Ngoại trừ cán cân thương mại năm 2002 là tương đối cân bằng còn lại là nhập siêu. Một nền kinh tế nhập siêu thì sao thừa ngoại tệ? Một nguyên nhân nữa là dường như ở VN đang song song tồn tại 3 nền kinh tế độc lập tương đối với nhau xét chủ yếu về cơ chế đầu vào và một phần cơ chế sử dụng phương tiện thanh toán hoàn toàn khác nhau: Khu vực kinh tế công của nhà nước; Khu vực kinh tế tư nhân bao gồm các DN nhỏ và vừa và kinh tế hộ nông dân; Khu vực kinh tế đầu tư nước ngoài. Trong đó khu vực 1 ở đầu vào có rất nhiều nhân tố rẻ và độc quyền như giá quyền sử dụng đất, tiền công, khấu hao rất rẻ. Khu vực 2 và 3 lại có các nhân tố đầu vào khá cao và rất cao đồng thời rất ít nhân tố ưu đãi nên nhìn chung cả 2 khu vưc này cao hơn nhiều so với giá cả sản xuất ở khu vực 1. Ngoài ra do tình trạng đô la hóa ở VN khá nặng nề nên khu vực 3 gần như là một khu vực kinh tế độc lập tương đối cao không chỉ về các nhân tố đầu vào mà cả ở thị trường đầu ra so với 2 khu vực kinh tế còn lại. Độc lập tương đối cả về sản xuất và đồng tiền thực hiện giá trị hàng hóa. Sự “khập khiễng” không đồng bộ nói trên tác động trực tiếp đến chính sách tiền tệ và kiểm soát lạm phát ở VN.

Thuốc đặc trị

Với các NHTM nên theo đuổi cơ cấu dự trữ đa dạng ngoại tệ hợp lý. Với chính sách quản lý ngoại hối cần có lộ trình sớm xóa bỏ cơ chế tín dụng ngoại tệ, trước hết là xóa cơ chế tín dụng ngoại tệ ngắn hạn để thay bằng cơ chế mua đứt bán đoạn và sử dụng các công cụ phái sinh như quyền chọn mua, bán, hợp đồng tương lai, hợp đồng kỳ hạn... làm cho trạng thái ngoại tệ của ngân hàng thay đổi từng ngày từng giờ, cơ cấu ngoại tệ năng động hơn, đa dạng hơn chứ không đơn điệu, bị động như hiện nay. Với cơ chế này, đòi hỏi các NHTM chủ động tìm kiếm và tư vấn cho khách hàng mua ngoại tệ cho các nhu cầu nhập khẩu. Cơ chế này cũng phải sớm mở rộng để bao gồm cả đối với khu vực các chi nhánh NHTM nước ngoài hoặc NHTM 100% vốn nước ngoài sau này tại VN. Chỉ trong điều kiện đó, NHTư mới thực hiện tôtë sứ mệnh là người mua bán cuối cùng không chỉ trên thị trường nội tệ sơ cấp và cả trên thị trường ngoại tệ liên NH. Kinh tế VN nhìn trong trung và dài hạn không thể thừa ngoại tệ mà vấn đề chỉ nằm ở chỗ trạng thái của nhóm hàng hóa đặc biệt này trường hay đoản ra sao đối với từng loại ngoại tệ mà thôi.

Thông thường bài thuốc đặc trị, cấp tốc, hữu hiệu nhất để chữa lạm phát bao giờ cũng là rút tiền từ lưu thông về NHTư. Cơ chế này có nhiều giải pháp chủ động từ phía NHTư. Thứ nhất, có thể thực hiện bằng các phiên chào bán trái phiếu, tín phiếu chính phủ trên thị trường mở, nếu loại hàng hóa này còn đang nằm trong kho lưu trữ của NHTư. Thứ 2, trong bối cảnh vừa lạm phát ở mức cao, vừa có biểu hiện thừa ngoại tệ, thiếu nội tệ tại NHTM thì NHNN phải có chính kiến đủ rõ ràng để thuyết phục Chính phủ cho phép NHNN tập trung ưu tiên số 1 vào mục tiêu chống lạm phát để ổn định giá cả. Theo đó, NHNN vẫn có thể tiếp tục đưa ra các giải pháp tiền tệ mạnh để điều chỉnh tổng cầu bằng quyền lực riêng có của NHTư. Thứ ba là NHNN phải đề xuất chính phủ tạo ra những cú hích tiêu thụ ngoại tệ bằng việc thúc đẩy tăng tốc độ giải ngân các dự án sử dụng đồng USD để chuyển hàng hóa, thiết bị vật tư vào. NHTM mua ngoại tệ của NHNN và bán ngoại tệ bán cho DN NK, trung hòa với phần nội tệ đang có trong lưu thông nằm ngoài NHTM. Thứ tư, NHNN xây dựng chính sách thúc đẩy hút tiền khỏi lưu thông qua kênh trái phiếu ngoại tệ trong nước cũng là biện pháp có thể đưa vào triển khai trong bối cảnh hiện nay. Theo đó, cơ chế cho phép không chỉ là trái phiếu chính phủ mà cả DN, các tập đoàn kinh tế uy tín có nhu cầu ngoại tệ chính đáng được phép phát hành để huy động ngoại tệ trôi nổi trong nền kinh tế và ngoại tệ được coi là thừa của NHTM. Các loạit trái phiếu này hoàn toàn có thể và được phép trở thành tài sản thế chấp rất an toàn để DN vay nội tệ tại NHTM hoặc để NHTM được sử dụng xin tái cấp vốn nội tệ khi cần tại NHNN. Cơ chế này vừa góp phần ổn định được tỷ giá, vừa đa dạng hóa cơ cấu dư trữ ngoại tệ tại NHTM và NHNN. Thứ 5, dù muốn dù không thì với một nền kinh tế thị trường, bao giờ cũng cần một NHTư thực quyền, thực lực và chịu trách nhiệm cao nhất về những vấn đề liên quan đến sự ổn định giá trị sức mua đối nội và đối ngoại của đồng nội tệ, đến văn minh thanh toán quốc gia và đến sự an toàn hệ thống NH. Giải pháp mang tầm chiến lược nhất để chống lạm phát cũng như bảo đảm văn minh thanh toán và an toàn hệ thống là: Chính phủ sớm cho phép NHNN đang hoạt động gần giống như một bộ trong các cơ quan nhà nước hiện nay, thành một NHTư với đầy đủ các khái niệm khoa học và thực tiễn của nó. Sau sự chuyển biến này, thì việc bàn đến lạm phát chắc chắn gọn hơn, đúng địa chỉ hơn và hiệu quả hơn...
Bạn đang đọc bài viết Bàn lạm phát… đúng địa chỉ tại chuyên mục Phân tích - Nhận định của Báo Diễn đàn doanh nghiệp. Liên hệ cung cấp thông tin và gửi tin bài cộng tác: email toasoan@dddn.com.vn, hotline: (024) 3.5771239,