"Bắc cầu" liên kết kinh tế Đông Nam Bộ

“Bắc cầu” liên kết kinh tế Đông Nam Bộ

16/09/2016 6:08 Sáng

(DĐDN) – Diễn đàn Kinh tế Đông Nam Bộ 2016 đã bắc nhịp cầu nối giữa doanh nghiệp – các nhà quản lý, hoạch định chính sách, các chuyên gia để có những chính sách phù hợp, kịp thời hỗ trợ, thúc đẩy sự phát triển vùng kinh tế trọng điểm này.

Diễn đàn Kinh tế Đông Nam Bộ 2016 với chủ đề “Hội nhập Quốc tế – Tận dụng các cơ hội mới cho liên kết và tăng trưởng” đã diễn ra sáng nay (16/9) tại Dinh Thống Nhất, TP HCM.

Chương trình nhận được sự chỉ đạo của Ban Kinh tế Trung ương, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cùng Ủy ban Nhân dân các Tỉnh, Thành phố, Báo Diễn đàn Doanh nghiệp phối hợp cùng Sở Kế hoạch và Đầu tư, Trung tâm Xúc tiến Thương mại Đầu tư của các Tỉnh, Thành phố khu vực Đông Nam Bộ tổ chức.

ld-tham-gian-hang-2 ld-tham-gian-hang-3 ld-tham-gian-hang-6 ld-tham-gian-hang-7

Các vị lãnh đạo, khách mời tham quan gian hàng

gianhang1 gianhang3 gianhang4 gianhang5

Các gian hàng của đơn vị, doanh nghiệp tham gia Diễn đàn Đông Nam Bộ 2016

Đây là một Diễn đàn thường niên để cộng đồng doanh nghiệp ở khu vực kinh tế trọng điểm Đông Nam Bộ gặp gỡ, tìm hiểu các cơ hội và thách thức của quá trình hội nhập quốc tế với riêng vùng kinh tế Đông Nam Bộ, chia sẻ kinh nghiệm trong sản xuất, kinh doanh, mở rộng mối quan hệ hợp tác giữa các doanh nghiệp trong vùng và với cộng đồng các doanh nghiệp, doanh nhân trên toàn cầu.

Đồng thời, Diễn đàn cũng bắc nhịp cầu nối giữa doanh nghiệp – các nhà quản lý, hoạch định chính sách, các chuyên gia để có những chính sách phù hợp, kịp thời hỗ trợ, thúc đẩy sự phát triển vùng kinh tế trọng điểm này.

chutoa

Ban chủ tọa Diễn đàn

Chương trình vinh dự nhận được lẵng hoa chúc mừng của ông Nguyễn Văn Bình – Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng Ban Kinh tế Trung ương và lãng hoa của ông Đinh La Thăng – Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy TP HCM Đinh La Thăng.

Tham dự chương trình, về phía Ban Kinh tế Trung ương, có ông Cao Đức Phát – Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Phó Trưởng ban Thường trực Ban Kinh tế Trung ương.

Về phía các đơn vị đồng chỉ đạo, có ông Nguyễn Mạnh Hùng, Ủy viên Ban Chấp hành TƯ Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Bình Thuận; Ông Trần Lưu Quang – Uỷ viên BCH Trung ương Đảng, Bí thư tỉnh uỷ Tây Ninh; Ông Nguyễn Văn Lợi – Uỷ viên BCH Trung ương Đảng, Bí thư tỉnh uỷ Bình Phước; Ông Lê Thanh Liêm – Phó Chủ tịch UBND TP Hồ Chí Minh; Bà Huỳnh Thị Hằng – Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bình Phước; Ông Phạm Văn Hậu – Phó Chủ tịch UBND tỉnh Ninh Thuận; Ông Nguyễn Ngọc Hai – Chủ tịch UBND tỉnh Bình Thuận.

toancanh

Toàn cảnh Diễn đàn

Về phía Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, có ông Đoàn Duy Khương – Phó Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, Chủ tịch ASEAN BAC Việt Nam; Ông Phạm Ngọc Tuấn – Tổng Biên tập Báo Diễn đàn Doanh nghiệp, Trưởng Ban tổ chức chương trình.

Diễn đàn còn có sự tham dự của đại diện lãnh đạo các cơ quan Bộ, ngành Trung ương và địa phương: Ông Vũ Trọng Bình – Vụ trưởng Vụ Kinh tế Địa phương, Ban Kinh tế Trung ương; Ông Đặng Xuân Quang – Phó Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài – Bộ Kế hoạch và Đầu tư; Ông Lê Ngọc Trung – Phó Cục trưởng Cục Công tác phía Nam Bộ Công Thương.

Diễn đàn Kinh tế Đông Nam Bộ hôm nay cũng được đón nhận sự quan tâm từ phía các tổ chức như TS. Vũ Thành Tự Anh – Giám đốc Nghiên cứu chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright; Phòng Thương mại Hoa Kỳ (AmCham) tại Việt Nam, Hiệp hội doanh nghiệp châu Âu (Eurocham) tại Việt Nam, Tổng lãnh sự Australia, sự tham dự của các Lãnh đạo Sở, ngành các tỉnh, thành phố, các Hiệp hội doanh nghiệp và các diễn giả khách mời.

Đặc biệt, chương trình còn có sự hiện diện của hơn 300 doanh nghiệp đến từ 9 tỉnh, thành trong vùng và hơn 40 báo đài từ trung ương đến địa phương.

kyniemchuong

Ban tổ chức trao kỷ niệm chương cho lãnh đạo 9 tỉnh thành vùng Đông Nam Bộ

Phát biểu tại chương trình, TS. Cao Đức Phát – Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Phó Trưởng ban Thường trực Ban Kinh tế Trung ương khẳng định: Vùng Kinh tế Đông Nam Bộ có vị trí, vai trò đặc biệt trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội trong cả nước, hội tụ những lợi thế nổi trội và có nhiều điều kiện để phát triển công nghiệp, dịch vụ đặc biệt phát triển các ngành: công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp điện tử, công nghiệp dầu khí và sản phẩm hóa dầu; phát triển dịch vụ cao cấp, dịch vụ du lịch, dịch vụ viễn thông, tài chính, ngân hàng; nghiên cứu phần mềm, các dịch vụ thương mại, logistics, tài chính, viễn thông.

Đi đầu trong hội nhập, mở rộng giao thương, hợp tác kinh tế có hiệu quả trong khu vực Đông Nam Bộ là các sản phẩm hóa dầu; phát triển dịch vụ cao cấp, dịch vụ du lịch, viễn thông, tài chính, ngân hàng, nghiên cứu, ứng dụng và triển khai khoa học công nghệ, đào tạo nhân lực có trình độ cao…

cao-duc-phat

TS. Cao Đức Phát – Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Phó Trưởng ban Thường trực Ban Kinh tế Trung ương

Vùng Đông Nam Bộ có TP HCM là trung tâm kinh tế, công nghiệp thương mại, dịch vụ, du lịch… là đầu mối giao thông và giao lưu quốc tế lớn nhất nước; Có Vũng Tàu là thành phố cảng biển, trung tâm dịch vụ và công nghiệp, du lịch biển lớn của quốc gia, có trục đường xuyên á chạy qua, là điểm trung chuyển của tuyến hàng không quốc tế từ Bắc xuống Nam và từ Đông sang Tây, trên tuyến đường xuyên Á nối liền với các nước Đông Nam Á lục địa; đồng thời, nằm gần khu vực có nền kinh tế phát triển năng động của châu Á với các trung tâm lớn như Singapore, Bangkok, Kuala Lumpur… Vì thế, vùng có lợi thế lớn trong thu hút đầu tư nước ngoài, mở rộng thị trường để đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế – xã hội . Vùng Đông Nam Bộ cũng là vùng có vị thế địa chính trị và an ninh quốc phòng đặc biệt quan trọng ở khu vực phía Nam Việt Nam.

cpi8

Ngay trong giai đoạn đầu của công cuộc đổi mới, Đảng và Nhà nước đã đặc biệt chú trọng Đông Nam Bộ, Nghị quyết số 53-NQ-TW ngày 29/8/2005 của Bộ Chính trị đã nêu rõ quan điểm phát triển: Đông Nam Bộ và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trở thành trung tâm kinh tế, tài chính, thương mại lớn của đất nước và khu vực Đông Nam Á. Phát huy tốt vai trò vùng kinh tế động lực, tạo sức lan tỏa, giúp đỡ các tỉnh khác phát triển. Các nghị quyết, quyết định của Chính phủ, thực hiện nghị quyết của Bộ Chính trị đã được ban hành là căn cứ, định hướng cơ bản đổi với sự phát triển của vùng, từ việc tiếng hàng các quy hoạch chuyên ngành, ban hành cơ chế, chính sách cho đến triển khai các hoạt động phát triển trên thực tế và qua đó góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội của vùng thời gian qua.

Những năm qua, các địa phương vùng Đông Nam Bộ đã phát triển năng động, có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, bền vững, đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa như điện tử, phần mềm, các dịch vụ thương mại, logistics, tài chính, viễn thông, du lịch; đi đầu trong hội nhập, mở rộng giao thông, hợp tác kinh tế có hiệu quả với các nước trong khu vực Đông Nam Á và thế giới.

Chỉ riêng 6 tháng đầu năm 2016, vùng kinh tế Đông Nam Bộ đã thu hút đầu tư nước ngoài lớn nhất cả nước, chiếm 51,6% số dự án cấp mới, 62,5% lượt dự án tăng vốn và 42,2% tổng vốn đầu tư trong cả nước. Có được kết quả này là do các tỉnh thành phố vùng Đông Nam Bộ đã không ngừng nâng cao chất lượng điều hành minh bạch môi trường kinh doanh, thực hiện cải cách trên nhiều lĩnh vực, thực thi nhiều chính sách hỗ trợ cho các doanh nghiệp đầu tư tại địa bàn, thường xuyên đối thoại trực tuyến chính quyền – doanh nghiệp, kịp thời tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp.

cpi10

Tuy nhiên, sự phát triển của Đông Nam Bộ chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế của vùng: chất lượng tăng trưởng kinh tế chưa cao, thiếu bền vững; chất lượng nguồn nhân lực còn thấp so với yêu cầu phát triển, kết cấu hạ tầng chưa phát triển kịp với nhu cầu; sự phối hợp giữa các bộ ngành, địa phương còn nhiều hạn chế; vấn đề nghiên kết vùng còn yếu. Mặc dù đã được quy hoạch thành vùng kinh tế trọng điểm nhưng thiếu thể chế đặc thù cũng như thiếu thể chế điều phối và liên kết kinh tế.

Năm 2016, nhiều hiệp định thương mại tự do (FTAs) cùng với cộng đồng kinh tế ASEAN có hiệu lực sẽ tạo ra nhiều cơ hội và thách thức cho sự phát triển kinh tế vùng Đông Nam Bộ. Hội nhập quốc tế có thể đem lại ích to lớn về phát triển thương mại và tối ưu hóa lợi ích liên kết song phương và đa phương dựa trên mở rộng không gian kinh tế. Hội nhập giúp mở rộng quan hệ hợp tác giữa các nước, giữa các vùng trong nước với các vùng khác trên thế giới thông qua các cam kết về dòng chảy hàng hóa, lao động trên cơ sở phân công lao động quốc tế dựa trên lợi thế của mỗi nước.

Ở giai đoạn 2016 – 2020, Việt Nam sẽ tiếp tục hội nhập sâu hơn, điều này sẽ làm tăng sức ép cạnh tranh không chỉ đối với thị trường ngoài nước mà còn cả thị trường nội địa. Là một nền kinh tế định hướng xuất khẩu, tham gia các hiệp ước tự do hóa thương mại có thể giúp hàng hóa Việt Nam, của Đông Nam Bộ có cơ hội tiếp cận các thị trường lớn hơn, từ đó mở ra cơ hội phát triển cho một số ngành hàng.

Vùng Đông Nam Bộ phát huy cao hơn các lợi thế tận dụng thời cơ và cạnh tranh trong quá trình hội nhập vì vậy tại Diễn đàn, ông Cao Đức Phát cho rằng cần làm sâu sắc hơn một số vấn đề sau đây:

Thứ nhất, đánh giá sâu sắc sự phát triển kinh tế của vùng Đông Nam Bộ, không chỉ so sánh với các địa phương trong cả nước, có điều kiện kém thuận lợi hơn trong phát triển kinh tế mà còn với các trung tâm kinh tế khác của các nước ASEAN, Châu Á và thế giới về thể chế kinh tế, quản trị nhà nước, quản trị doanh nghiệp, hiệu quả đầu tư, năng suất lao động, mức độ sáng tạo, trình độ công nghiệp, các thị trường tài chính dịch vụ. Trên cơ sở đó làm rõ hơn sự cần thiết phải đổi mới cơ chế, chính sách, thể chế nhằm cạnh tranh có hiệu quả, kết nối tối với các trung tâm kinh tế lớn trong khu vực và thế giới.

Thứ hai, xác định cụ thể những chủ trương, cơ chế chính sách cần phải triển khai cho vùng để đảm bảo vùng Đông Nam Bộ thực sự là đầu tàu phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế như NQ 53-NQ/TW ngày 29/8/2005 của Bộ Chính trị. Vùng phải như là địa bàn đột phá trong phát triển kinh tế đất nước trong thời gian tới. Trong đó cần thảo luận về khả năng ban hành chủ trương, cơ chế, chính sách, thể chế vượt trội, cạnh tranh với các trung tâm kinh tế khu vực ASEAN, Châu Á và trên thế giới. Cần rà soát, làm rõ hơn định hướng kinh tế của vùng này theo hướng phát triển các ngành công nghiệp có hàm lượng công nghệ cao, tạo giá trị gia tăng lớn, công nghiệp sạch để không cạnh tranh với các vùng khó khăn về các loại hình đầu tư dựa vào lao động gái rẻ, thúc đẩy sự năng động hơn của các khu công nghiệp theo chiến lượng tăng trưởng mới của Đảng và Nhà nước; xây dựng quỹ, vườn ươm phát triển doanh nghiệp trong nước gắn với đầu tư sáng tạo công nghệ của các trung tâm nghiên cứu của doanh nghiệp; phát triển dịch vụ chất lượng cao và hiện đại kết nối, cạnh tranh quốc tế phát triển dịch vụ thống nhất toàn vùng với các trung tâm logistic quốc tế hiện đại; nông nghiệp gắn liền với công nghiệp chế biến hình thành chuỗi nông nghiệp thực phẩm khép kín, hiện đại; tăng cường quan hệ hợp tác, trao đổi thương mại, nghiên cứu và phát triển ứng dụng quốc tế, đối với việc phát triển kinh tế – xã hội Vùng Đông Nam Bộ mà còn góp phần quan trọng để hoàn thiện thể chế, đẩy mạnh liên kết và phát triển kinh tế – xã hội các vùng khác trong phạm vi cả nước.

TS. Đoàn Duy Khương – Phó Chủ tịch VCCI khẳng định: Chúng ta đang sống trong một khu vực, một thế giới thay đổi với các chương trình Hội nhập kinh tế quốc tế đang tạo ra các nguồn lực phát triển kinh tế mới khi mà các nguồn lực truyền thống đã trở nên bất cập. Chính vì vậy, chính sách phát triển và Hội nhập kinh tế quốc tế luôn là chính sách nhất quán của Việt Nam. Bên cạnh các chương trình phát triển thương mại song phương và các chương trình đa phương như WTO, APEC và ASEM… Việt Nam đang hướng tới AEC, RCEP, TPP.

doan-duy-khuong

TS. Đoàn Duy Khương – Phó Chủ tịch VCCI

Trong bối cảnh thay đổi đó, có thể nhận thấy 3 thách thức cơ bản: Thứ nhất, nguồn lực nào sẽ là động lực để phát triển kinh tế. Thứ hai, sự cạnh tranh là không thể tránh khỏi giữa các nền kinh tế và doanh nghiệp. Thứ ba, sự thay đổi của thị trường cung, cầu sẽ thay đổi cách vận hành của nền kinh tế.

Ví dụ như các chương trình hội nhập AEC, RCEP, TPP sẽ mở ra một thị trường cầu với số lượng người tiêu dùng gấp hàng chục lần dân số Việt Nam. Thị trường cung với sự phát triển của công nghệ sẽ định hình lại các ngành công nghiệp và khu vực kinh tế. Các ngành như tài chính, bán lẻ, thông tin truyền thông, đào tạo sẽ được tái cấu trúc cùng với sự phát triển của công nghệ số. Sự phát triển của công nghệ sẽ làm thay đổi các ngành nghề truyền thống và phân chia lại công việc giữa con người và máy móc. Ngoài ra, sự phát triển của ngành giao thông dẫn đến giảm chi phí kinh doanh cũng làm thay đổi kinh tế thương mại truyền thống. Ở tất cả các ngành, chuỗi giá trị sản phẩm dược phân chia ở các quốc gia. Mỗi quốc gia càng ngày càng chuyên nghiệp, chuyên ngành (dòng hàng hóa trung gian, bán thành phẩm nhiều hơn gần 4 lần hàng hóa thành phẩm được luân chuyển trong hệ thống logistics toàn thế giới). Điều đó có nghĩa là cạnh tranh cũng chuyển dần từ cạnh tranh sản phẩm sang cạnh tranh ở các phân khúc trong chuỗi giá trị gia tăng của sản phẩm. Hơn nữa cạnh tranh cũng dịch chuyển đến tận nghề nghiệp cá nhân khi các chuyên gia ở các nền kinh tế khác nhau có thể kết hợp để thực thi một dự án ở bất kỳ nơi nào trên thế giới

“Nhận thức được sự thay đổi và có các giải pháp để nắm bắt cơ hội cũng như vượt qua thách thức sẽ giúp chúng ta có được nguồn lực mới thông qua thương mại quốc tế và nâng cao khả năng cạnh tranh để tiếp tục phát triển kinh tế và tham gia Hội nhập kinh tế quốc tế hiệu quả”. – ông Đoàn Duy Khương khẳng định.

toancanh1

Hơn 300 doanh nhân tham dự Diễn đàn

Cũng theo ông Khương, vùng Đông Nam Bộ là khu vực đầu tầu kinh tế của cả nước với 4 tỉnh hạt nhân phát triển của vùng kinh tế: TP. Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu. Đông Nam Bộ cũng đứng thứ 2 cả nước về số doanh nghiệp thành lập mới với 3.376 doanh nghiệp, chiếm 69% tổng số doanh nghiệp thành lập của cả nước.

Xét về tình hình vốn đăng ký của doanh nghiệp thành lập mới phân theo vùng lãnh thổ, Đông Nam Bộ cũng cùng với Đồng bằng sông Cửu Long là hai vùng có số vốn đăng ký cao nhất so với các vùng còn lại trong cả nước với đăng ký 25.669 tỷ đồng tăng 101,1%. Theo quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội vùng Đông Nam Bộ đến năm 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt năm 2014. TP Hồ Chí Minh và các tỉnh phụ cận trong tương lai sẽ là vùng kinh tế phát triển năng động, có tốc độ tăng trưởng cao, bền vững và là đầu tàu phát triển kinh tế chung của cả nước.

Để khu vực Đông Nam Bộ có thể thực hiện tốt quy hoạch vùng của Chính phủ, ông Đoàn Duy Khương đã chia sẻ 3 giải pháp:

Thứ nhất, Đông Nam Bộ cần phải định vị là một khu vực thống nhất, liên kết kinh tế có sức cạnh tranh cao cả ở thị trường trong nước và quốc tế nhằm đảm bảo sự tăng trưởng khu vực; tạo ra nhiều công ăn việc làm và đặc biệt là phát triển các ngành nghề có năng suất cao để đem lại sự giàu có của mỗi cá nhân và doanh nghiệp.

Thứ hai, Xác định rõ lĩnh vực, ngành nghề, sản phẩm, phân khúc sản phẩm cốt lõi có khả năng liên kết và cạnh tranh ở thị trường trong nước cũng như quốc tế (theo các tiêu chí tốc độ, quy mô và bền vững). Cũng cần nghiên cứu phát triển hướng phát triển các sản phẩm, dịch vụ mới.

Thứ ba, xây dựng các cơ sở hạ tầng cứng và hạ tầng mềm như: thể chế, chính sách, giáo dục, nghiên cứu đào tạo… nhằm tăng cường sức liên kết và cạnh tranh của các ngành nghề cốt lõi.

HỘI NHẬP QUỐC TẾ VỚI LIÊN KẾT PHÁT TRIỂN VÙNG

Chia sẻ về chủ đề hội nhập quốc tế – thách thức đối với vùng kinh tế Đông Nam Bộ, TS. Vũ Thành Tự Anh – Giám đốc Nghiên cứu chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright cho rằng chúng ta đang đứng trước cơ hội lịch sử chưa từng có của lịch sử dân tộc với vô vàn cơ hội nhưng cũng là những thách thức lớn. Quan trọng là làm thế nào để biến các cơ hội thành hiện thực đó là bài toán vô cùng khó, nhưng bên cạnh đó, chúng ta cũng nhận thấy năng lực chớp cơ hội hiện nay rất hạn chế. Đây có lẽ không chỉ là nan đề của vùng Đông Nam Bộ mà còn của cả nước, nó phụ thuộc vào tầm nhìn, ý chí, năng lực của các tỉnh.

tuanh

TS. Vũ Thành Tự Anh – Giám đốc Nghiên cứu chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright

Vậy, phải làm thế nào để các con thuyền nhỏ của các tỉnh có thể liên kết với nhau thành những hạm đội lớn đủ sức cạnh tranh quốc tế đang là vấn đề mà vùng đặt ra? Theo ông Tự Anh, liên kết vùng đã được Việt Nam đặt ra hàng chục năm nay nhưng thực tế, liên kết vùng hiện nay rất hạn chế. Và cách mà ông Tự Anh đề xuất là liên kết vùng nương theo các quy luật của thị trường, phải dựa theo các dòng chảy của thị trường, chứ không chỉ đơn thuần là mang tính chính trị.

pci2

“Trong khoảng 10 năm qua, Việt Nam không bỏ qua bất kỳ một cơ hội nào cho hội nhập trong khu vực. Năm 2015 là năm bản lề của hội nhập, chúng ta gia nhập cộng đồng kinh tế chung ASEAN, chuẩn bị ký TPP. Có thể nói, đây là lần đầu tiên trong 4.000 năm lịch sử, chúng ta chủ động hội nhập và hoàn thiện với quá trình hội nhập thế giới. Nếu nói ví von thì nền kinh tế Việt Nam phát triển dựa vào hai đôi cánh: Một là hội nhập kinh tế thế giới. Hai là cải cách thể chế và cải cách kinh tế trong nước. Chính cải cách thể chế và cải cách kinh tế trong nước đã giúp Việt Nam chuẩn bị năng lực để đón nhận toàn cầu hóa. Nếu như chúng ta chỉ hăng hái đi hội nhập mà quên mất phải chuẩn bị năng lực nội tại, chuẩn bị thông qua cải cách thì chúng ta sẽ bỏ lỡ cơ hội lần nữa. Và nếu lần này bỏ nữa thì giá phải trả sẽ lớn hơn rất nhiều. Đây chính là cơ hội đồng thời là thách thức lớn của Việt Nam”. – ông Tự Anh nhấn mạnh.

pci3

Cũng theo ông Tự Anh, tiến trình hội nhập sẽ mang lại cho Việt Nam 4 cơ hội lớn:

Một là, khi chúng ta hội nhập sẽ thu được nhiều lợi ích từ xuất khẩu, từ mở rộng thị trường; Hai là, tạo thêm cơ hội để gia nhập vào chuỗi giá trị toàn cầu; Ba là, cơ hội tái cơ cấu và đa dạng hóa các mặt hàng xuất khẩu; Bốn là, cơ hội cuối cùng đáp ứng các chuẩn mực của thế giới.

Tuy nhiên, ông Tự Anh cũng cho rằng hội nhập cũng tạo ra những thách thức: Thách thức đầu tiên là sự cạnh tranh trên thị trường hàng hóa, dịch vụ, tài chính, bán lẻ. Khi các hàng rào thuế quan giảm xuống thì chắc chắn các hàng rào phi thuế quan và kỹ thuật sẽ tăng lên. Trên thực tế rất nhiều doanh nghiệp của Việt Nam đã phải tìm cách ứng phó và thậm chí chịu thua thiệt. Mặc dù hội nhập tạo ra nhiều cơ hội nhưng lại tạo ra những khó khăn trong tận dụng cơ hội đặc biệt nguồn lực và năng lực của doanh nghiệp Việt Nam còn hạn chế.

Ông Đặng Xuân Quang – Phó Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) cho biết, vùng kinh tế Đông Nam Bộ có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội của cả nước:

Đây là vùng duy nhất hiện nay hội tụ đầy đủ các điều kiện và lợi thế để phát triển công nghiệp, dịch vụ, đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa; đặc biệt phát triển công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp điện tử, tin học, công nghiệp dầu khí và sản phẩm hóa dầu; phát triển dịch vụ cao cấp, dịch vụ du lịch, dịch vụ viễn thông, tài chính, ngân hàng; nghiên cứu, ứng dụng và triển khai khoa học và công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao.

ongquang

Ông Đặng Xuân Quang – Phó Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư)

Vùng kinh tế Đông Nam Bộ có hệ thống kết cấu hạ tầng khá đồng bộ, tập trung các cơ sở đào tạo, nghiên cứu khoa học, trung tâm y tế; nguồn nhân lực dồi dào và có kỹ năng khá nhất, do đó là địa bàn có môi trường đầu tư hấp dẫn nổi trội. Đây là trung tâm đầu mối dịch vụ và thương mại tầm cỡ khu vực và quốc tế, đặc biệt là dịch vụ du lịch, dịch vụ tài chính, ngân hàng, viễn thông, dịch vụ cảng….

Vùng kinh tế Đông Nam Bộ đã hình thành mạng lưới đô thị vệ tinh phát triển xung quanh thành phố Hồ Chí Minh, liên kết bởi các tuyến trục và vành đai thông thoáng. Đông Nam Bộ là một vùng công nghiệp trọng yếu lớn nhất của cả nước, đã hình thành và liên kết mạng lưới các KCN tập trung và phát triển các ngành công nghiệp mũi nhọn và cơ bản như: khai thác và chế biến dầu khí, luyện cán thép, năng lượng điện, công nghệ tin học, hóa chất cơ bản, phân bón và vật liệu… làm nền tảng công nghiệp hóa của vùng và của cả nước.

Cũng theo ông Quang, Đông Nam Bộ là vùng kinh tế năng động nhất cả nước trong việc thu hút đầu tư nước ngoài (ĐTNN). Ngay từ những năm đầu tiên của công cuộc đổi mới, ĐTNN đã nhanh chóng tập trung vào TP. Hồ Chí Minh và các tỉnh Đông Nam Bộ , góp phần vào sự phát triển bứt phá của cả vùng. Cho đến nay, kim ngạch xuất khẩu của vùng chiếm gần 60% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước. Tính theo độ mở cửa kinh tế, đo bằng tỷ trọng xuất khẩu trên GDP, vùng có chỉ số mở cửa đạt gần 110% trong khi chỉ số cả nước chỉ khoảng 70%. Tỷ lệ đầu tư trên GDP chiếm 50%, cao gấp 1,5 lần so với cả nước; có nhịp độ tăng trưởng kinh tế cao hơn khoảng 1,4 – 1,6 lần so với nhịp độ tăng trưởng bình quân chung cả nước.

Các dự án ĐTNN đã đi tiên phong trong hầu hết các ngành, lĩnh vực ưu thế của vùng. Tính đến tháng 8/2016, các nhà đầu tư nước ngoài đã đầu tư 11.537 dự án với tổng vốn 140,2 tỷ USD; điều đặc biệt là số lượng dự án và vốn đầu tư này chiếm 57,4% và 48,4% FDI của cả nước; các dự án FDI của vùng tập trung 55,8% số dự án và 58,0% vốn đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp và chế tạo.

Với vai trò là khu vực năng động, dẫn đầu cả nước về thu hút ĐTNN, dự kiến trong giai đoạn 2016 – 2020, tổng vốn đầu tư FDI vào toàn vùng đạt khoảng gần 60 tỷ USD vốn đăng ký, chiếm khoảng từ 45-55% ĐTNN của cả nước. Đồng thời, Đông Nam Bộ cần giữ vai tiên phong trong việc chuyển hướng chiến lược trong việc thu hút ĐTNN – tập trung vào việc thu hút các dự án có hàm lượng công nghệ cao, thân thiện với môi trường.

khach-moi-1

Để đạt được các yêu cầu nêu trên, Phó Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài Đặng Xuân Quang đề nghị các địa phương vùng Đông Nam Bộ tập trung vào các giải pháp sau đây:

Một là, hoàn thiện quy hoạch các quy hoạch chuyên ngành cho không gian phát triển kinh tế – xã hội, nhất là quy hoạch sử dụng đất để tạo quỹ đất sạch thu hút đầu tư; quan tâm làm tốt công tác quy hoạch ngành, lĩnh vực, quy hoạch phát triển đô thị. Kiện toàn hệ thống cơ sở hiện đại, đạt tiêu chuẩn cấp khu vực. Các mạng lưới giao thông đường bộ, đường thủy, đường không phải gắn kết với hệ thống vành đai các cụm, khu công nghiệp, khu chế biến tạo nên môi trường công nghiệp hiện đại, tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp giảm chi phí sản xuất, tăng năng lực cạnh tranh.

Hai là, trong điều kiện không gian hợp tác kinh tế quốc tế được mở rộng, với việc Việt Nam nỗ lực đẩy mạnh cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh đồng thời với việc gia nhập hàng loạt các cam kết quốc tế thế hệ mới sẽ tạo điều kiện cho nhiều phương thức thu hút đầu tư nước ngoài mới như M&A trong lĩnh vực công nghệ, tài chính, bất động sản… Hợp tác công tư (PPP) trong lĩnh vực phát triển cơ sở hạ tầng và Mô hình khởi nghiệp cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể tiếp cận với các nguồn vốn nước ngoài.

Ba là, trong điều kiện phát triển kinh tế – xã hội ở mức cao trong nhiều năm, dư địa nguồn lực cho phát triển còn lại của vùng (như đất đai, nguồn nhân lực…) sẽ phải tập trung cho các ngành ngành sản xuất công nghệ cao, công nghệ sinh học, dược phẩm…; cùng với việc phát triển dịch vụ về tài chính, công nghệ, sở hữu trí tuệ, dịch vụ vận tải, logistic, dịch vụ kinh doanh du lịch, y tế, giáo dục, công nghiệp hỗ trợ, dịch vụ hàng hải…có giá trị gia tăng cao sẽ là những ngành trọng điểm ưu tiên thu hút đầu tư trong giai đoạn tới.

Bốn là, xây dựng hệ thống đào tạo nhân lực có trình độ chuyên môn đạt tầm khu vực và quốc tế. Đảm bảo vùng cung cấp dồi dào nguồn nhân lực chất lượng cao với chi phí cạnh tranh cho các ngành công nghiệp hỗ trợ, chế biến – chế tạo. Đây phải được xem là giải pháp đột phá cả trong ngắn và dài hạn để đảm bảo Vùng kinh tế Đông Nam Bộ phát triển bền vững.

Năm là, tăng cường các hoạt động hợp tác liên kết vùng để mở rộng khả năng tiếp cận thị trường; chú trọng liên kết với các tỉnh, nhất là các tỉnh Đồng Bằng Sông Cửu Long, miền Trung – Tây Nguyên để tạo thành chuỗi cung ứng sản phẩm, dịch vụ có giá trị gia tăng và hiệu quả cao; tạo ra thế mạnh, sức lan toả để phát triển nhanh hơn, hiệu quả hơn.

Ông Herb Cochran – Giám đốc điều hành Phòng Thương mại Hoa Kỳ (AmCham) tại Việt Nam cho biết, 70% kim ngạch xuất khẩu Việt Nam đến từ các doanh nghiệp FDI, tuy nhiên có đến 90% là nguyên liệu nhập khẩu từ nước ngoài nhiều, điều đó có nghĩa là các doanh nghiệp Việt Nam không được hưởng lợi nhiều về giá trị gia tăng.

ongtay1

Ông Herb Cochran – Giám đốc điều hành Phòng Thương mại Hoa Kỳ (AmCham) tại Việt Nam

Hy vọng, khi Việt Nam hội nhập sâu rộng với các quốc gia trên thế giới, doanh nghiệp Việt Nam sẽ được hưởng lợi nhiều hơn, qua đó sẽ thúc đẩy tăng trưởng, tạo cơ hội ngay trong nội tại của đất nước.

Ông Herb Cochran thông tin thêm, hiện, Hiệp hội doanh nhân Hoa Kỳ đang hợp tác với VCCI thực hiện sáng kiến dự án Liên minh tạo thuận lợi thương mại trong đó, sẽ có nhiều hoạt động tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp Việt Nam hội nhập.

pci4

Năm 2013, Ngân hàng Thế giới đã công bố báo cáo trong đó nhấn mạnh Việt Nam phải tìm ra các động lực tăng trưởng mới và cải thiện hiệu quả hạ tầng giao thông vận tải. Hiện Việt Nam có tăng trưởng nhưng tốc độ tăng trưởng đang chậm lại và đang đi xuống. Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 19 năm 2014, 2015 và Nghị quyết 35 mới đây về cải cách các nhiệm vụ công.

Tháng 12/2013 Hiệp định tạo thuận lợi cho thương mại thế giới đã được ký, 92 quốc gia đã tham gia phê chuẩn, nếu đạt trên 110 quốc gia thì hiệp định này sẽ chính thức có hiệu lực và có vai trò quan trọng.

cpi6

cpi7

Xem nội dung bài phát biểu của ông Herb Cochran tại đây.

thaoluan1

TS. Đoàn Duy Khương – Phó Chủ tịch VCCI điều phối phiên thảo luận đầu tiên

Thảo luận về các cơ hội đột phá của vùng Đông Nam Bộ, TS. Vũ Thành Tự Anh cho biết, cơ hội rất nhiều, nhưng nếu nhìn lại, vùng Đông Nam Bộ luôn là vùng tiên phong, nhưng phải làm thế nào để giữ được vị trí tiên phong ấy. Theo ông Tự Anh, khả năng và khát vọng đi tiên phong tất nhiên sẽ không đến từ doanh nghiệp, cá nhân đơn lẻ mà đến từ môi trường thể chế. Nếu môi trường thể chế không tạo bất lợi cho doanh nghiệp thì tinh thần khởi nghiệp sẽ tăng lên và tạo ra những sự phát triển bứt phá.

Ông Tự Anh thông tin thêm, hiện nay, các cơ chế liên kết vùng còn mang tính hành chính, hình thức. Sự thành công của một địa phương cần phải đặt trong sự thành công của cả vùng. Theo đó, TP HCM thành công thì phải có sự lan tỏa ra các địa phương khác và là đầu tàu, dẫn dắt sự phát triển của các tỉnh khác trong vùng. “Chúng ta đang đi theo con đường thứ ba là dựa vào đầu tư nước ngoài. Hiện, Đông Nam Bộ đang có các địa phương là Bình Dương, Đồng Nai đang trở thành những địa phương rất lớn về dệt may. Làn sóng đầu tư đang đổ vào các tỉnh này”. – ông Tự Anh nói.

Ông Bùi Văn – Giám đốc FBNC cho biết, trong hội nhập mới giả sử như TPP có một điều khoản là cần phải nâng cao vai trò của hiệp hội doanh nghiệp thì Hiệp hội sẽ đóng vai trò gì trong liên kết vùng này. Nếu làm liên kết vùng theo kiểu hành chính thì không có hiệu quả nên cần phải để cho các hiệp hội tham gia vào câu chuyện liên kết vùng.

“Nếu xóa bỏ được xu hướng biến địa giới hành chính thành địa giới kinh tế thì sẽ “cởi trói” cho liên kết vùng. Do đó, tôi cho rằng, để liên kết vùng đạt hiệu quả cần có sự tham gia mạnh mẽ của các hiệp hội. Bởi vì, hiệp hội là đại diện cho việc xóa bỏ địa giới hành chính, biến địa giới hành chính thành địa giới kinh tế” – ông Văn nói.

Nói về hội nhập, ông Đặng Xuân Quang – Phó Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài cho biết có hai vấn đề.

Thứ nhất là nguồn lực. Theo ông Quang, bên cạnh khai thông nguồn lực mới thì các tỉnh Đông Nam Bộ cần phát huy những nguồn lực đang nắm trong tay. Tổng vốn đầu tư nước ngoài vào Đông Nam Bộ vào khoảng 142 tỷ USD nhưng chỉ có 70% vốn được giải ngân, tức là vẫn còn gần 50 tỷ USD chưa được giải ngân.

Thứ hai là năng suất và hiệu quả. Ông Quang cho biết, hiện nay năng suất lao động còn thấp, đó là thách thức lớn trước bối cảnh hội nhập. Hiệu quả năng suất lao động hiện đang bị giới hạn bởi đơn vị hành chính.

“Phải ghép những mảnh nhỏ lại thành những chiếm hạm lớn để tạo ra sức cạnh tranh. Hội nhập không phải chỉ là cuộc chơi của các tập đoàn, doanh nghiệp lớn mà còn là sân chơi của các doanh nghiệp nhỏ”. – ông Quang Nhấn mạnh.

Thảo luận về vấn đề này, ông Herb Cochran – Giám đốc Amcham tại Việt Nam khẳng định cơ hội khi tham gia hội nhập quốc tế của Việt Nam là rất lớn, nhưng để xác định được cơ hội này một cách rõ ràng, chúng ta phải nắm được thể chế cần thiết để tận dụng cơ hội tốt nhất. Ví dụ: Rào cản là 85% sản phẩm thủy sản nước ngoài vào Việt Nam. Tuy nhiên, việc kiểm soát các sản phẩm này còn thiếu chặt chẽ và thiếu an toàn.

Ở Mỹ, việc kiểm tra nguồn gốc các sản phẩm rất nghiêm ngặt. Mỹ có tổ chức Chính phủ kiểm tra các sản phẩm này và vừa qua, có tới 1/5 % sản phẩm sau khi kiểm soát và có ảnh hưởng tới người tiêu dùng. Nếu Việt Nam muốn xuất khẩu vào Mỹ, chúng ta phải tuân thủ đây đủ thông tin trên sản phẩm cũng như nguồn gốc.

Bà Almut Rossener – Giám đốc Hiệp hội Doanh nghiệp Châu Âu (EuroCham) tại Việt Nam chia sẻ, các hiệp định thương mại sẽ tạo cho Việt Nam rất nhiều cơ hội để phát triển. Hiện, Châu Âu có nhiều các mặt hàng của Việt Nam như cà phê, trà… Tuy nhiên, Châu Âu kiểm tra rất chặt chẽ về nguồn gốc xuất xứ cũng giống như Giám đốc AmCham vừa nói. Và vấn đề môi trương cũng là vấn đề khá quan trọng bởi việc biến đổi khí hậu ảnh hưởng rất lớn đến khu vực ĐBSCL. “Chúng tôi sẽ tạo mọi điều kiện thuận lợi để phối hợp với Việt Nam để khắc phục sự biến đổi này”. – Bà Almut Rossener nói.

Chia sẻ trong lĩnh vực đầu tư, bà Almut Rossener cho rằng để có thể phát triển và thu hút đầu tư, các ngành phải phối hợp, đầu tư theo quy hoạch. Cần có quy hoạch cụ thể, chắc chắn thì doanh nghiệp đầu tư nước ngoài mới dám đầu tư.

LIÊN KẾT TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG 

Ông Hà Trọng Khiêm – Phó Tổng Giám đốc Ngân hàng Quân đội (MB) phụ trách Phía Nam cho biết, Việt Nam đang ở trong một giai đoạn quan trọng để thúc đẩy phát triển kinh tế đất nước. Nhiều hiệp định thương mại quốc tế quan trọng đã được thông qua hoặc ký kết, như WTO, FTAs, TPP… đã đưa nền kinh tế Việt Nam hội nhập sâu với kinh tế thế giới. Đây là cơ hội, nhưng cũng là thách thức to lớn cho các doanh nghiệp Việt.

ong-khiem

Ông Hà Trọng Khiêm – Phó Tổng Giám đốc Ngân hàng Quân đội (MB)

Hội nhập mang lại cho chúng ta nhiều cơ hội mở rộng thị trường hơn, tìm kiếm những thị trường mới, và có khả năng thâm nhập sâu hơn trên những thị trường truyền thống. Tuy nhiên, bên cạnh đó, sự cạnh tranh trên thương trường cũng trở nên gay gắt, khốc liệt hơn. Chúng ta có thể cảm nhận rõ điều đó ở việc các tập đoàn quốc tế đang chú ý và chuyển dời sự đầu tư sang Việt Nam, bao gồm cả tập đoàn sản xuất, cả các nhà thương mại, phân phối, bán lẻ và tài chính ngân hàng. Những tập đoàn này có thế mạnh hơn rất nhiều các doanh nghiệp Việt ở cả tiềm lực kinh tế lẫn kinh nghiệm phát triển thị trường quốc tế, ở công nghệ sản xuất và thương hiệu”. – ông Khiêm nói.

Ông Khiêm thông tin, MB có rất nhiều giải pháp đã được đưa ra để hỗ trợ cho doanh nghiệp, mà một trong những giải pháp đó, chính là tạo ra những vùng liên kết để hỗ trợ lẫn nhau cùng phát triển. “Đó cũng là lý do chúng ta cùng ở đây ngày hôm nay để trao đổi, chia sẻ và thảo luận về chủ đề “Hội nhập quốc tế – Tận dụng các cơ hội mới cho liên kết và tăng trưởng”. Điều này có ý nghĩa đặc biệt trong giai đoạn nền kinh tế hội nhập sâu và mạnh mẽ như hiện nay. Trong bối cảnh này, vùng kinh tế Đông Nam Bộ giữ vai trò quan trọng, tiên phong để thúc đẩy, tạo động lực cho nền kinh tế cả nước. Các thành phần kinh tế trong khu vực đã và đang không ngừng nỗ lực hướng đến tạo lập một vùng kinh tế trọng điểm phát triển năng động, bền vững và thịnh vượng”. – ông Khiêm cho biết.

TS Nguyễn Trí Dũng, Chủ tịch Mạng lưới hợp tác vì phát triển quốc tế (NICD) cho biết, vấn đề lớn nhất là chúng ta phải xây dựng được tư duy mô hình phát triển riêng. Hiện nay, chúng ta đang bắt chước rất nhiều mô hình của châu Âu, châu Mỹ… nhưng thật sự trên thế giới hiện nay không có một mô hình kinh tế kiểu mẫu nào phù hợp cả.

ongdung

Ông Nguyễn Trí Dũng – Chủ tịch Mạng lưới hợp tác quốc tế vì Phát triển 

Theo ông Dũng, có rất nhiều doanh nghiệp FDI đầu tư vào Việt Nam nhưng nhìn lại 20 năm qua, doanh nghiệp FDI chủ yếu đầu tư vào địa phương nào, loại công nghệ họ sử dụng, cũng như cử chuyên viên nào tới Việt Nam. Vấn đề này chúng ta chưa làm thống kê đầy đủ và cũng chưa đặt thành vấn đề quốc sách của Việt Nam. Chính vì thế chúng ta vẫn chưa tận dụng được lợi thế trong việc đổ bộ đầu tư của FDI.

Trong 40 năm qua có một số việc chúng ta làm được như hệ thống cầu cống, đường xá đã cơ bản hoàn thiện nhưng việc vận dụng được hệ thống này cho sự phát triển của cả vùng Đông Nam Bộ thì chúng ta làm chưa tốt. “Tôi có cảm nhận, trong thế kỷ 21 này, sự phát triển của một quốc gia không dựa vào chính quyền trung ương mà dựa vào khả năng phát triển của chính quyền địa phương. Nếu chúng ta vẫn điều hành phát triển đất nước bằng những nghị định, nghị quyết hành chính, trong khi các đơn vị địa phương không nhận thức được rằng họ mới là những người đứng lên dựng xây đất nước thì đó chính là một thách thức lớn đối với từng địa phương”. – ông Dũng nói.

Cũng theo ông Dũng: “TPP là một liên minh kinh tế, trong liên minh này, cơ bản có 12 quốc gia. Và trong tất cả các nước này đều có người Việt Nam. Trong khi chúng ta ngồi tại VN để bàn về TPP thì đang có rất nhiều Việt kiều đang có mặt trên tất cả các nước này. Nếu chúng ta biết tận dụng, liên kết với Việt kiều các nước thì sẽ tạo ra được những lợi thế rất lớn”.

Ông Đậu Anh Tuấn – Trưởng ban Pháp chế VCCI cho biết, PCI của khu vực Đông Nam Bộ trong cải thiện môi trường kinh doanh – doanh nghiệp dân doanh trong năm 2015 đã có nhiều chuyển động.

dauanhtuan

Ông Đậu Anh Tuấn – Trưởng ban Pháp chế VCCI

Điểm số PCI năm 2015 của vùng Đông Nam Bộ trong tương quan cả nước được tính như sau: Đồng bằng sông Hồng 59.42 điểm; Vùng Duyên hải miền Trung 59.34 điểm; Đồng bằng Sông Cửu Long 59.16 điểm; Vùng Đông Nam Bộ 58.74 điểm; Khu vực Tây nguyên 56.08 điểm; Vùng Tây Bắc 55.87 điểm.

pci

Mặc dù đứng thứ 4/6 khu vực có điểm số PCI cao, song so với các vùng khác, điểm số PCI thành phần của Đông Nam Bộ mới chỉ ngang bằng, thậm chí nhiều chỉ số thành phần còn thấp hơn các vùng khác. Cụ thể: Chỉ số gia nhập thị trường đạt 8.26; Tiếp cận đất đai đạt 5.96; Tính minh bạch đạt 6.43; Chi phí thời gian đạt 6.77; Chi phí không chính thức đạt 5.10; Cạnh tranh bình đẳng đạt 5.08; Tính năng động đạt 4.52; Hỗ trợ Doanh nghiệp đạt 5.54; Chất lượng lao động đạt 5.82; Thiết chế pháp lý đạt 5.54.

Theo ông Đậu Anh Tuấn, trong năm 2015, cải cách thủ tục hành chính khu vực Đông Nam Bộ có nhiều điểm sáng, việc tiếp cận thông tin được đánh giá là tương đối thuận lợi. Cùng với đó, vai trò của các hiệp hội doanh nghiệp gia tăng.

Đặc biệt, 2015 đã ghi nhận sự năng động, sáng tạo của chính quyền khu vực Đông Nam Bộ. Cụ thể, UBDN tỉnh đã linh hoạt trong khuôn khổ pháp luật nhằm tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho các doanh nghiệp tư nhân, sáng tạo trong việc giải quyết các vấn đề mới phát sinh.

Tuy nhiên, thực tế cho thấy, chất lượng thực thi tại các cấp sở, ngành và quận, huyện còn có hạn chế. Cụ thể, có những sáng kiến hay ở cấp tỉnh nhưng chưa thực thi tốt ở các Sở, ngành. Hay như việc lãnh đạo tỉnh có chủ trương, chính sách đúng đắn, nhưng lại không được thực hiện tốt ở cấp huyện. Bên cạnh đó, gánh nặng CPKCT được đánh giá vẫn ở mức khá cao.

pci1

Theo đánh giá của các doanh nghiệp FDI về lợi thế của TP HCM, sự bất ổn về chính sách vẫn còn thấp, trong khi đó, cơ sở hạ tầng và dịch vụ công được đánh giá là đã tốt hơn. Năm 2015 cũng ghi nhận tình trạng tham nhũng đã thấp hơn, ít quy định hơn, mức thuế cũng thấp hơn, và rủi ro thu hồi tài sản thấp hơn.

Xem toàn bộ phần phát biểu của ông Đậu Anh Tuấn tại đây.

phien2a

Phiên thảo luận thứ hai

Thảo luận về vấn đề này, ông Lê Ngọc Trung – Phó Cục trưởng Cục Công tác phía Nam (Bộ Công Thương) cho biết, cần phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa chính quyền các địa phương. Phát triển công nghiệp thương mại phù hợp với từng tỉnh. Ví dụ: TP HCM nên tập trung phát triển đầu tư các ngành công nghệ cao, dịch vụ, viễn thông… Bên cạnh đó, cần xác định ngành nào ưu tiên đầu tư.

Về vai trò của VCCI trong việc phát triển kinh tế vùng Đông Nam Bộ cũng như thúc đẩy các doanh nghiệp kiến nghị nhà nước, ông Đậu Anh Tuấn – Trưởng ban Pháp chế VCCI cho rằng, đặc điểm chung của vùng Đông Nam Bộ là nói ít làm nhiều và có nhiều giải pháp quyết liệt, cặn kẽ. “Về phía VCCI, hiếm có vùng nào VCCI có hai chi nhánh, đó chính là ưu tiên của VCCI” – ông Tuấn nói.

Ông Tuấn cũng cho rằng, các tỉnh cần thường xuyên tổ chức các hoạt động đối thoại với cơ quan quản lý nhà nước; hỗ trợ doanh nghiệp giải quyết vướng mắc; giải quyết các bất đồng trong mối quan hệ giữa người lao động và doanh nghiệp…

Ở một góc độ khác, ông Nguyễn Băng Tâm – Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp TP HCM, Chủ tịch Hội Doanh nghiệp Quận Bình Thạnh, TP HCM cho rằng, vai trò của các nhà đầu tư nước ngoài, các doanh nghiệp trong nước rất quan trọng trong mối liên kết. Doanh nghiệp sẽ có vai trò kết nối các địa phương.

Về tác động chủ quan, vai trò của VCCI chỉ là cấp vĩ mô và một số trọng điểm, còn ở các tỉnh không có hệ thống VCCI nên theo ông Tâm, giữa VCCI và chính phủ nên có sự hỗ trợ cho hiệp hội doanh nghiệp các tỉnh.

Ông Lê Duy Hiệp – Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Dịch vụ Logistic VN, Phó CT HĐQT kiêm TGĐ CTCP Transimex khẳng định: Việt Nam ngày càng tham gia một cách sâu rộng và Đông Nam Bộ có đầy đủ yếu tố để liên kết. Doanh nghiệp FDI về logistics đang chiếm đa số, khoảng 7 triệu contener 20 feed. Sản lượng và chi phí chiếm 20,5 -20,6% và đặc biệt là giảm chi phí sản xuất của doanh nghiệp.

Về chuỗi cung ứng, hiện chưa có cơ chế phối hợp, còn lỏng lẻo. Đặc biệt, hiện tại chưa có cơ quan nào đứng ra quản lý dịch vụ Logistics. Các đơn vị đang kết nối với khu Cái Mép Thị Vải chủ yếu bằng đường sông, để vận chuyển đi Châu Âu và Mỹ. Thực tế cho thấy, cảng Cái Mép có 6 cảng, có cảng thừa năng lực, có cảng thiếu năng lực, nhưng chi phí logistics vẫn quá cao.

Ông Hiệp cho rằng, thị trường Logistics đang nằm trong tay các doanh nghiệp nước ngoài, vấn đề là làm sao chúng ta nắm bắt được cơ hội. Từ thực tế này, ông Hiệp kiến nghị cần liên kết địa phương sao cho phù hợp. Bên cạnh đó, cần thành lập các cụm, trung tâm logistics tiếp nối với cảng Cái Mép Thị Vải để tăng cường kết nối bằng đường thủy nội địa, tạo điều kiện thuận lợi hóa thương mại.

KẾT NỐI ĐẦU TƯ – GIAO THƯƠNG

Ông Andy Hồ – Giám đốc Điều hành Tập đoàn Vina Capital cho biết, từ đầu năm đến bây giờ thị trường chứng khoán Việt Nam tăng trưởng hơn 17%, lạm phát dưới 3%, GDP năm nay tăng trưởng sấp xỉ 6 – 6.5%, giá trị trung bình của các công ty trên sàn giao dịch sấp xỉ 16 -17% lợi nhuận năm vừa rồi, lãi suất cũng giảm đi , trái phiếu Chính phủ 5 năm xấp xỉ 5.6 – 5.6%.

phien3

Phiên thảo luận thứ ba

Đây là môi trường ở Việt Nam hiện tại và là cơ hội đầu tư rất hấp dẫn cho tất cả các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam. Mới đây, Chính phủ Việt Nam đã có nhiều biện pháp nhằm tháo gỡ những hạn chế của nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam. Đây là động thái rất quan trọng cho thị trường, thu hút sự quan tâm rất lớn của nhà đầu tư nước ngoài.

Ở góc độ nhà đầu tư, ông Nguyễn Đức Thắng –Giám đốc điều hành Red Square Việt Nam, đối tác của quỹ TPG từ Mỹ cho biết: Tổng giá trị tài sản TPG đang quản lý trên toàn thế giới là 77 tỷ USD và tại Việt Nam quỹ đã đầu tư vào các doanh doanh nghiệp như FPT Masan và rất thành công. Mặc dù TPG không đầu tư nhiều doanh nghiệp tại Việt Nam nhưng khi đã đầu tư thì có sự hỗ trợ và đồng hành cùng doanh nghiệp trong một quá trình với việc hỗ trợ nguồn lực tài chính và các nguồn lực khác như quản trị điều hành và kết nối thị trường.

Ông Thắng chia sẻ, thường các quỹ đầu tư sẽ mất khoảng thời gian 5-7 năm rót vốn vào doanh nghiệp, sau đó tới khoảng thời gian thoái vốn và để doanh nghiệp tự vận hành với chính nguồn vốn của mình. “Chúng tôi đầu tư cho doanh nghiệp nhằm giúp doanh nghiệp phát triển lên một quỹ đạo cao hơn chứ không phải là vào để thâu tóm công ty”. – ông Thắng khẳng định.

Ông Nguyễn Thanh Ngữ – Tổng Giám đốc CTCP Mía đường Thành Thành Công Tây Ninh cho biết, đơn vị có 7 nhà máy ở miền Trung và Tây nguyên. Qua Diễn đàn này, ông Ngữ hy vọng, ngành đường sẽ có sự liên kết để phát triển trong mía đường nói riêng và nông nghiệp nói chung.

Cũng theo ông Ngữ, hiện nay nguồn vốn đầu tư trong nước cũng khá hấp dẫn. Tuy nhiên, doanh nghiệp phải làm sao để có thể cạnh tranh, nâng cao chuỗi giá trị liên kết ngang, liên kết vùng và kéo dài. “Cần có góc nhìn tư duy về liên kết vùng để có cơ hội mở rộng đầu tư, qua đó, tăng cao năng suất lao động” – ông Ngữ nói.

Ông Chu Thanh Sơn – Phó Tổng Giám đốc Tổng Công ty Sonadezi Đồng Nai cho biết, Sonadezi đã phát triển 11 khu công nghiệp, 23 công ty thành viên hoạt động theo mô hình công ty mẹ – công ty và đã cổ phần hóa doanh nghiệp. Việc cổ phần hóa Sonadezi của được các nhà đầu tư đánh giá rất cao vì đây là một ngành đầu tư có hiệu quả. Sonadezi quan tâm tìm các đối tác đầu tư và đơn vị này đã thực hiện chiến lược cổ phần hóa khá tốt đẹp.

Ông Võ Văn Khoa – Giám đốc Trung tâm Xúc tiến Đầu tư tỉnh Bình Phước cho biết, việc liên kết vùng Đông Nam Bộ trong thời gian qua đang gặp một số khó khăn như: Việc liên kết chưa trở thành trọng tâm phát triển; Các tỉnh thành chưa xây dựng được cơ sở dữ liệu vùng; Thiếu sự hợp tác của các địa phương trong việc hoạch định chính sách, giới thiệu nhà đầu tư, phân bổ nhà đầu tư; Quy định vùng đã được lập song lại thiếu các cấp quản lý thực hiện quy hoạch tương ứng.

Bên cạnh đó, sự phối hợp giữa các ngành các tỉnh cũng chưa chặt chẽ. Việc xúc tiến đầu tư vào khu công nghiệp, cụm công nghiệp chủ yếu là do doanh nghiệp tự tìm tới trước, sau đó mới thông qua tỉnh.

Thực tế, việc thiếu liên kết tại vùng Đông Nam Bộ đã dẫn tới thực trạng nơi thừa, nơi thiếu nhà đầu tư. Nhà đầu tư thường muốn đầu tư vào các tỉnh gần bến cảng, sân bay. Còn với các tỉnh, thành ở xa như Bình Phước, Tây Ninh… điều kiện khó khăn đặc biệt là về hạ tầng giao thông đường bộ, đường không, cảng biển thì rất hạn chế trong thu hút doanh nghiệp.

Tuy nhiên, trong điều kiện khó khăn đó, tỉnh Bình Phước đã có những cải cách quan trọng trong cơ chế chính sách, môi trường đầu tư. Từ đó dẫn tới những kết quả đang khích lệ trong thu hút đầu tư của tỉnh. Cụ thể, trong những năm gần đây, trung bình mỗi năm, Bình Phước thu hút được hàng chục doanh nghiệp FDI và hàng trăm doanh nghiệp trong nước đầu tư vào tỉnh.

Ông Võ Văn Khoa kiến nghị, cần phát huy hơn nữa ban điều phối của vùng trong việc hỗ trợ giám sát hoạt động giữa chính quyền các tỉnh và doanh nghiệp. Bên cạnh đó, quy hoạch phải đảm bảo đa ngành để các địa phương xây dựng được quy hoạch chung. Cùng với đó, định kỳ 3 tháng, 6 tháng, các tỉnh thành phải gửi báo cáo đầu tư để nêu ra những thuận lợi khó khăn, từ đó ban điều phối có thể đưa ra những chính sách phù hợp.

cpi9

Đồng quan điểm trên, ông Võ Văn Tư – Giám đốc Trung tâm Xúc tiến Đầu tư tỉnh Lâm Đồng cho rằng tiềm năng về địa lý là chủ yếu về nông nghiệp. Việc liên kết đã và đang triển khai là kết nối du lịch, nhân lực. Tuy nhiên, Hiệp hội các doanh nghiệp còn yếu, cần phải ngồi lại với nhau để mổ xẻ các vấn đề làm sao có hiệu quả.

Trong hoạt động xúc tiến đầu tư, ông Tư cho rằng, các văn bản trên giấy tờ có, nhưng triển khai chưa có, đặc biệt là quy hoạch vùng cần phải có viện nghiên nghiên cứu cùng quy hoạch. Thực tế, quan điểm hiện nay vẫn là vẫn mạnh tỉnh nào, tỉnh đó dẫn đến vỡ quy hoạch. Từ thực tế này, ông Tư đề xuất cần có vai trò điều phối của Chính phủ về tới địa phương. Bên cạnh đó, hệ sinh thái, môi trường đàu tư của địa phương phải đồng nhất.

Ông Phan Ngọc Sơn – Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghệ Đồng Nai cho biết, trường ĐH Công nghệ Đồng Nai nằm ở trung tâm của các khu công nghiệp trong vùng kinh tế trọng điểm mà sinh viên ra trường vẫn thất nghiệp. Do vậy, phải có sự kết nối giữa Nhà nước, nhà trường và DN thì mới giải quyết được bài toán thất nghiệp.

Tỉnh Đồng Nai dự kiến là một tỉnh công nghiệp, với sân bay Long Thành sẽ đi vào hoạt động trong tương lai gần, cùng với nhiều khu công nghiệp, cụm công nghiệp sẽ cần lực lượng lao động khá lớn. Trong khi đó, dự án đào tạo 22.000 kỹ sư của tỉnh vào năm 2022 đã được phê duyệt nhưng hiện vẫn chưa thấy khởi động cho dự án này. Lý do là muốn có nơi đào tạo tốt trước nhất cần phải có nguồn vốn đảm bảo để đầu tư. Đây là điều mà Trường Đại học Công nghệ Đồng Nai đang thiếu. Thêm nữa, cũng cần phải có cơ chế đào tạo theo nguồn nhân lực theo yêu cầu của doanh nghiệp để từ đó góp phần giảm thiểu sự thất nghiệp; đồng thời góp phần nâng giá trị của lao động Việt Nam cũng như đồng lương của lao động tăng lên.

Phát biểu bế mạc chương trình, TS Đoàn Duy Khương – Phó Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, Chủ tịch ASEAN BAC Việt Nam cho biết, hội nhập sâu vào thị trường quốc tế trong những năm tiếp theo sẽ là cơ hội mới, nhưng cũng cần một nguồn lực mới để cơ hội trở thành hiện thực, thành sự phát triển kinh tế không chỉ của Việt Nam mà còn của các quốc gia trong khu vực.

Tuy vậy, cũng không thể tránh khỏi những cuộc cạnh tranh ngày càng có quy mô lớn hơn giữa các thị trường rộng và như vậy liên kết sẽ càng phải chặt chẽ hơn. Liên kết quốc gia, liên kết lãnh thổ và hẹp hơn là những liên kết vùng sẽ là chiến lược phát triển hết sức quan trọng.

Bên cạnh đó, sự thay đổi của thị trường cung cầu, phát triển của khoa học công nghệ sẽ làm thay đổi toàn bộ nền kinh tế. Cạnh tranh sẽ không chỉ ở mức độ sản phẩm mà sẽ chuyển dần sang phân khúc các chuỗi giá trị gia tăng của sản phẩm và cao hơn nữa, sự cạnh tranh sẽ chuyển tới tận nghề nghiệp của từng cá nhân trong xã hội.

Chính vì vậy, có 3 giải pháp phát triển kinh tế vùng Đông Nam Bộ mà các nhà quản lý, chuyên gia và doanh nghiệp đã khẳng định tại Diễn đàn.

Thứ nhất, Đông Nam Bộ cần phải định vị quy hoạch là một khu vực liên kết kinh tế có sức cạnh tranh cao trong nước và quốc tế.

Thứ hai, xác định những lĩnh vực ngành nghề, phân khúc, sản phẩm cốt lõi có khả năng liên kết và cạnh tranh ở thị trường trong nước và quốc tế. Cần nghiên cứu phát triển các sản phẩm dịch vụ mới và xây dựng quy chế huy động vốn, đầu tư các cụm ngành, lĩnh vực, doanh nghiệp hạt nhân và chúng ta cũng đã xác định những lĩnh vực quan trọng như nông nghiệp, logistics, du lịch có vai trò hết sức quan trọng trong sự phát triển của khu vực. Cùng với đó, cần phải xây dựng các cơ sở hạ tầng cứng và mềm, giáo dục, khoa học công nghệ thông qua các công cụ như: Nâng cao năng lực điều hành cấp tỉnh, cấp vùng, xây dựng hệ sinh thái khởi nghiệp, phát triển doanh nghiệp, phát triển vùng và đặc biệt, trong hội nhập quốc tế không thể không nói tới việc chống rủi ro. Do vậy, xây dựng cơ chế chống rủi ro cho doanh nghiệp hết sức quan trọng trong việc chúng ta hướng tới thể chế môi trường kinh doanh tốt.

Cuối cùng, chúng ta cùng nhau nhận thức liên kết vùng là xu hướng tất yếu để nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp các quốc gia và điều này đòi hỏi sự hợp tác chặt chẽ giữa các chủ thể kinh tế. “VCCI sẵn sàng đồng hành cùng với các địa phương, các doanh nghiệp với phương trâm nếu các bạn đi một mình sẽ đi chậm, nếu chúng ta cùng đi thì sẽ tiến rất nhanh và rất xa”. – ông Khương khẳng định.

Diễn đàn nhận được sự hỗ trợ, đồng hành của các đơn vị, doanh nghiệp: Ngân hàng MB, Cty XNK Liên Thái Bình Dương, Cty Đầu tư Căn nhà mơ ước, Địa ốc Hưng Thịnh, Địa ốc Đất Xanh, Cty Phát triển nhà Thủ Đức, Bất động sản Việt Gia Phú, Tôn Đông Á, Amway VN, CTy Phúc Sinh, Tổng CTy Phát triển Khu công nghiệp, CTy D2D, VietnamAirline.

Nhóm Phóng viên thời sự

>> Cơ hội mới cho liên kết và tăng trưởng

 

Tags :

Bài viết đã chặn phản hồi!

Tin khác đã đăng

Theo bạn, nữ doanh nhân nào có tầm ảnh hưởng nhất?
  • 7.69%
  • 4.62%
  • 6.15%
  • 3.08%
  • 20%
  • 10.77%
  • 1.54%
  • 1.54%
  • 13.85%
  • 20%
  • 6.15%
  • 4.62%