Theo Tổng cục Hải quan, tại các cảng của Việt Nam đang có hơn 5.000 container phế liệu nhập khẩu tồn đọng, tăng từ 200 – 400% so với cùng kỳ năm ngoái. Theo thống kê của Bộ Tài nguyên và Môi trường, tổng số các doanh nghiệp nhập khẩu và sử dụng phế liệu trên cả nước là 256 doanh nghiệp. Trong đó, lượng doanh nghiệp nhập khẩu phế liệu để trực tiếp phục vụ sản xuất là 153 doanh nghiệp, số doanh nghiệp nhập khẩu ủy thác là 103. Theo đó, mỗi năm Việt Nam nhập 3 triệu tấn phế liệu.

Qua kiểm tra cho thấy, hầu hết những mặt hàng phế liệu được nhập khẩu “chui” đều là những mặt hàng bị cấm như ắc quy, dầu nhớt thải, các linh kiện điện tử có chứa các chất như chì… gây ô nhiễm môi trường cho Việt Nam.

Nguyên nhân của tình trạng này xuất phát từ việc quốc gia được coi là công xưởng sản xuất nguyên liệu từ phế liệu của thế giới - Trung Quốc cấm nhập khẩu phế liệu tái chế, dẫn đến việc các nước trước đây vẫn xuất khẩu chất thải rắn, phế liệu sang Trung Quốc (như Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Canada, các nước Bắc Âu...) sẽ phải tìm thị trường nhập khẩu mới.

Theo Tổng cục Hải quan, tại các cảng của Việt Nam đang có hơn 5.000 container phế liệu nhập khẩu tồn đọng, tăng từ 200 – 400% so với cùng kỳ năm ngoái.

Theo Tổng cục Hải quan, tại các cảng của Việt Nam đang có hơn 5.000 container phế liệu nhập khẩu tồn đọng, tăng từ 200 – 400% so với cùng kỳ năm ngoái.

Do đó, một số lượng lớn hàng phế liệu từ các nước phát triển đã tràn về khu vực Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam. Đây là một trong những nguyên nhân chính làm gia tăng các container phế liệu tại các cảng biển, đặc biệt là phế liệu nhựa.

Nhìn nhận vấn đề này, luật sư Nguyễn Tiến Lập, thành viên NHQuang & Cộng sự, trọng tài viên Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam suy đoán 3 tình huống: Thứ nhất, các phế liệu thực chất là chất thải gây ô nhiễm môi trường và dĩ nhiên không đạt chuẩn để tái sử dụng làm nguyên liệu sản xuất. Do đó, mục đích của các bên liên quan chỉ cốt nhập vào lãnh thổ Việt Nam nhằm trút hay xả thải. Nếu tình huống này xảy ra, tính chất của nó sẽ đặc biệt nghiêm trọng và các cơ quan chức năng có thể xử lý ngay bằng việc khởi tố hình sự theo Điều 239, Bộ luật Hình sự năm 2015 (tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam).

Tình huống thứ hai, các phế liệu này có thể vẫn được sử dụng làm nguyên liệu sản xuất được, tuy nhiên, việc sử dụng nó sẽ gây nên ô nhiễm môi trường nghiêm trọng mà doanh nghiệp không khắc phục được. Người nhập khẩu hay chủ hàng e ngại sẽ bị phát hiện vi phạm pháp luật và bị xử lý ở khâu sau đó, chứ không phải ngay tại cảng nhập. Do đó, họ đã bỏ hàng.

Trong trường hợp này, khi điều tra và phát hiện danh tính chủ hàng, cơ quan chức năng hoàn toàn có thể xử lý hành chính theo Nghị định 155/2016/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, hoặc xử lý hình sự theo Điều 239, Bộ luật Hình sự 2015 nói trên.

Tình huống thứ ba, có sự liên đới vi phạm pháp luật giữa cơ quan quản lý về môi trường và nhà nhập khẩu hay chủ hàng bởi vì việc nhập khẩu phế liệu có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường đã được quy định cụ thể để kiểm soát chặt chẽ theo Luật Bảo vệ môi trường cũng như Nghị định 38/2015 của Chính phủ và Thông tư 41/2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường.

Khẳng định sự tồn đọng của khoảng 6.000 container phế liệu nhập khẩu tại các cảng chứng tỏ nhà nhập khẩu e sợ bị phát hiện vi phạm pháp luật nên không lộ diện và chấp nhận bỏ hàng.

Theo quan điểm của ông Lập, Bộ và các Sở Tài nguyên và Môi trường có chức năng kiểm tra để xác nhận các điều kiện cho phép doanh nghiệp Việt Nam được nhập khẩu phế liệu làm nguyên liệu sản xuất.

“Tuy nhiên, rất có thể các điều kiện theo luật định đã không được tuân thủ nghiêm chỉnh theo hướng có sự xem nhẹ hay bao che của cơ quan chức năng. Hậu quả là khi vụ việc bị báo chí phát hiện và Chính phủ vào cuộc, doanh nghiệp có liên quan đành quyết định theo cách bỏ của chạy lấy người.

Trong trường hợp này, các biện pháp xử lý cần phải được tiến hành với quy mô và mục đích rộng hơn, không chỉ xử phạt doanh nghiệp mà còn cả các cá nhân và cơ quan nhà nước có sai phạm”, ông Lập nói.

Về hành lang pháp lý của hoạt động này, ông Lập khẳng định, khung pháp luật về bảo vệ môi trường ở nước ta liên quan đến vấn đề này khá đầy đủ. Không ai có thể đổ lỗi cho khoảng trống của pháp luật được mà nguyên nhân của sự việc hoàn toàn nằm ở khâu thi hành pháp luật.

“Nhập khẩu phế liệu được coi là hoạt động có tính nhạy cảm cao đối với nền kinh tế, do đó nó được kiểm soát nghiêm ngặt và đặc biệt ở tất cả các quốc gia mà không liên quan gì đến quyền tự do kinh doanh hay tự do thương mại. Do đó, khi sự vụ xảy ra, trách nhiệm đầu tiên phải thuộc về các cơ quan quản lý của nhà nước, sau đó mới là doanh nghiệp và các bên liên quan”, ông Lập nói.

Bạn đang đọc bài viết 5.000 container phế liệu tồn đọng: Doanh nghiệp sợ sai nên bỏ hàng? tại chuyên mục Pháp luật của Báo Diễn đàn doanh nghiệp. Liên hệ cung cấp thông tin và gửi tin bài cộng tác: email toasoan@dddn.com.vn, hotline: (024) 3.5771239,