Các vị đại biểu, khách mời tham quan Diễn đàn.

Toàn cảnh Diễn đàn Kinh tế Đông Nam Bộ 2017

Sau Diễn đàn Kinh tế Đông Nam Bộ lần thứ I diễn ra tại TP HCM vào tháng 9/2016, đại diện đơn vị chủ trì là Ban Kinh tế Trung ương, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, lãnh đạo Tỉnh ủy và UBND các tỉnh vùng Đông Nam Bộ cùng các chuyên gia đều có chung nhận định: Vùng kinh tế Đông Nam Bộ đang đứng trước một cơ hội lớn – cơ hội phát triển và tăng trưởng kinh tế bền vững, với đòn bẩy liên kết thành một không gian kinh tế thống nhất, có sự quy hoạch tổng thể chung của vùng bao gồm cả quy hoạch phát triển, xây dựng, vùng nguyên liệu, các cụm, chuỗi, khu công nghiệp, đô thị, kết nối hạ tầng, nguồn nhân lực và môi trường. 

Tiếp nối thành công của Diễn đàn lần thứ I, được sự đồng ý của Ban Bí thư Trung ương Đảng, Ban Kinh tế Trung Ương phối hợp với Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam tổ chức Diễn đàn Kinh tế Đông Nam Bộ lần thứ II với chủ đề: “Tái cơ cấu kinh tế và chuyển đổi mô hình tăng trưởng trên cơ sở liên kết vùng" từ 14h00– 17h00, ngày 26/9/2017 tại Hội trường Dinh Thống nhất, số 135 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, TP HCM.

Diễn đàn hướng đến các mục tiêu: (1) Đánh giá khách quan, chính xác những khó khăn, hạn chế trong phát triển kinh tế vùng Đông Nam Bộ; những thách thức trong phát triển vùng. (2) Liên kết tạo không gian đầu tư và nguồn lực đầu tư toàn vùng; Tăng hiệu quả đầu tư và tập trung những ngành có tính chất ưu tiên, trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng. (3) Xác định được những chủ trương, cơ chế chính sách có tính đột phá về phát triển hạ tầng, công nghiệp, dịch vụ cho vùng Đông Nam Bộ để đề xuất Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Chính phủ. 

Các vị đại biểu tham dự Diễn đàn.

Tham dự Diễn đàn có: Ông Cao Đức Phát - Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng, Phó Trưởng ban Thường trực Ban Kinh tế Trung ương; TS Vũ Tiến Lộc - Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam; Ông Trần Lưu Quang - Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Tây Ninh; Ông Phạm Văn Ranh - Bí thư tỉnh ủy Long An; Bà Huỳnh Thị Hằng – Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bình Phước; Ông Hà Công Tuấn – Thứ Trưởng thường trực Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn; Ông Võ Tân Thành - Phó Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, Giám đốc Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam chi nhánh TP HCM; PGS.TS Trần Đình Thiên - Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam; Bà Trần Thị Thanh Thúy - Phó Vụ trưởng Vụ Đầu tư (Bộ Giao thông Vận tải); Ông Nguyễn Văn Yên – Phó Chủ tịch tỉnh Lâm Đồng; Ông Lê Ngọc Trung - Phó Cục trưởng Cục Công tác phía Nam, Bộ Công Thương; Ông  Vũ Trọng Bình - Vụ trưởng Vụ Địa phương - Ban Kinh tế Trung ương; Tổng lãnh sự các nước Campuchia, Italia tại Việt Nam; Ông Tomaso Andreatta - Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam - Chủ tịch Tiểu ban Tăng trưởng Xanh EuroCham; Ông Taji Tokimoto, Trưởng đại diện Tổ chức Xúc tiến Thương mại Nhật Bản tại TP HCM (Jetro TP HCM); Ông Izaki Hiroshi - Trưởng đại diện Cơ quan hợp tác Quốc tế Nhật Bản tại TP HCM (Jica TP HCM).

Đặc biệt, chương trình còn có sự tham dự của gần 500 doanh nghiệp đến từ các tỉnh thành trong vùng kinh tế Đông Nam Bộ và đông đảo đại diện các phương tiện truyền thông, các báo đài từ trung ương đến địa phương.

Phát biểu chào mừng, ông Cao Đức Phát - Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng Ban thường trực Ban Kinh tế Trung ương cho biết, Vùng Đông Nam bộ và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam là vùng kinh tế động lực quan trọng hàng đầu của cả nước, là “cửa ngõ” kinh tế và cầu nối của Việt Nam ra thế giới. Khu vực này đang hội tụ những lợi thế vượt trội và có nhiều điều kiện để phát triển công nghiệp, dịch vụ, đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước…

Ông Cao Đức Phát - Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng Ban thường trực Ban Kinh tế Trung ương

Nhiều năm qua, thực hiện các chủ trương của Đảng, nhà nước, nhất là Nghị quyết 53 ngày 29/8/2005 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo quốc phòng, an ninh vùng Đông Nam Bộ và kinh tế phía Nam tới năm 2010 và định hướng đến năm 2020, Đông Nam Bộ đã đạt được những thành tự to lớn. Đến nay, vùng Đông Nam Bộ chiếm khoảng 40% GDP, đóng góp gần 60% thu ngân sách quốc gia, GDP tính theo đầu người cao gần gấp 2,5 lần mức bình quân cả nước; có tỷ lệ đô thị hóa cao nhất nước; tốc độ tăng trưởng kinh tế của vùng luôn cao hơn khoảng 1,4 lần đến 1,6 lần tốc độ tăng trưởng bình quân chung cả nước.

Những năm qua, các địa phương vùng Đông Nam Bộ phát triển ngày càng năng động, đã đạt được tốc độ tăng trưởng cao, bền vững ở nhiều lĩnh vực như điện tử, phần mềm, các dịch vụ thương mại, logistics, tài chính, viễn thông, du lịch; đã phát triển một số ngành công nghiệp mũi nhọn như: Khai thác và chế biến dầu khí, luyện cán thép, năng lượng điện, công nghệ tin học, hóa chất cơ bản, phân bón và vật liệu… làm nền tảng công nghiệp hóa của vùng và cả nước.

Tuy nhiên, theo ông Cao Đức Phát, sự phát triển của vùng chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế. Ông Phát chỉ ra một số hạn chế cơ bản.

Một là, vùng Đông Nam Bộ về cơ bản vẫn chưa chuyển đổi thành công sang mô hình tăng trưởng với giá trị gia tăng cao, quản trị hiện đại, trong đó hàm lượng công nghệ và tri thức đóng vai trò quyết định.

Hai là, kết cầu hạ tầng của vùng chưa theo kịp yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Giao thông đuờng bộ, đường thủy, cảng biển chưa thực sự kết nối tốt, chưa hiện đại, chi phí cao; chưa hình thành hệ thống đường bộ cao tốc, đường sắt.

Ba là, chất lượng đô thị còn thấp, các khu công nghiệp chồng chéo về chức năng; các trung tâm đô thị trong vùng kém kết nối cả về giao thông, chức năng kinh tế và dịch vụ xã hội

Bốn là, chậm hình thành các trung tâm khoa học, công nghệ sáng tạo trình độ quốc tế, ít sáng chế công nghệ, đóng góp khoa học công nghệ chưa cao vào mô hình tăng trưởng.

Năm là, giữa các tỉnh, thành phố còn thiếu sự phối hợp, thậm chí cạnh tranh nhau về chính sách, hệ thống dịch vụ công... làm chậm hình thành một không gian kinh tế vùng thống nhất.

Sáu là, mặc dù có Hội đồng vùng kinh tế trọng điểm, Ban Chỉ đạo, nhưng các tổ chức này họat động kém hiệu quả do thiếu cơ chế có hiệu lực để thực thi các quyết sách được thống nhất.

Đại hội Đảng lần thứ XI, XII đều đã chỉ rõ: "Thúc đẩy phát triển các vùng kinh tế trọng điểm, tạo động lực và tác động lan toả đến các vùng khác. Nghị quyết 05 của Hội nghị lần thứ 4 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XII ban hành 01/11/2016 về “Một số chủ trương, chính sách lớn nhằm tiếp tục đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động, sức cạnh tranh của nền kinh tế” đã nêu “đổi mới cách thức thực hiện liên kết, phối hợp các địa phương trong phát triển kinh tế vùng như giải pháp quan trọng để thực hiện tái cơ cấu kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng.”

Nghị quyết 05 cũng nêu rõ phải “hoàn thiện và nâng cao chất lượng, hiệu lực thực thi các quy hoạch phát triển kinh tế vùng”, “nghiên cứu, rà soát chức năng, nhiệm vụ của chính quyền địa phương và hình thành thể chế điều phối phát triển kinh tế vùng. Các địa phương trong vùng phối hợp xây dựng các đề án, thỏa thuận phối hợp, liên kết phát triển kinh tế - xã hội, phối hợp ban hành và thực hiện chính sách thu hút đầu tư, ưu tiên các ngành, lĩnh vực có tiềm năng, lợi thể cạnh tranh”.

Nghị quyết số 10 của Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về “Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” ban hành ngày 03/6/2017 cũng nhấn mạnh phải “xây dựng thể chế liên kết vùng, hoàn thiện quy hoạch phát triển kinh tế vùng trên cơ sở phát huy lợi thế so sánh của từng địa phương”.

Diễn đàn Kinh tế Đông Nam Bộ 2017 nằm trong khuôn khổ hợp tác giữa Ban Kinh tế Trung ương và Phòng Thương mại Công nghiệp Việt Nam (VCCI), các tỉnh thành phố trong Vùng. Với tinh thần triển khai thực hiện các nghị quyết của Đảng, ông Phát đề nghị các các diễn giả, khách mời tập trung thảo luận một số vấn đề chính.

1. Vùng Đông Nam bộ, đi trước một bước trước cả nước về thực hiện cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tạo động lực thực hiện tái cơ cấu kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng: Vùng Đông Nam bộ và Thành phố Hồ Chí Minh là địa bàn cơ bản công nghiệp hoá, về cơ bản đã đạt tiêu chí công nghiệp hóa mà cả nước đặt ra cho năm 2035, vì vậy với việc triển khai thực hiện đầy đủ các cơ chế chính sách để ban hành cần những cơ chế đi trước cả nước đủ sức kết nối và cạnh tranh quốc tế tương đương hoặc hơn các trung tâm kinh tế lớn trong khu vực.

2. Hình thành không gian kinh tế vùng thống nhất hỗ trợ thực hiện tái cơ cấu kinh tế cấp vùng: trong đó cần đề xuất các cơ chế, chính sách tăng cường liên kết vùng nhằm tạo ra một không gian kinh tế thống nhất toàn vùng Đông Nam bộ dựa trên cơ sở phối hợp về: quy hoạch, phát triển hạ tầng, chính sách, đầu tư, liên kết các khu công nghiệp, dịch vụ,..., từng bước hình thành các tổ chức dịch vụ công cấp vùng.

3. Hình thành thể chế điều phối vùng hiệu quả: trong đó xem xét nên giao cho Thành phố Hồ Chí Minh là chủ tịch thường trực Hội đồng vùng, và mời Thủ tướng Chính phủ là trưởng Ban Chỉ đạo. Làm rõ những nội dung cấp vùng chỉ thực thiện với Nghị quyết của Hội đồng vùng (hạ tầng, cảng, khu kinh tế, một số dịch vụ công, ...); Thống nhất về chính sách, đầu tư, liên kết và phân chức năng các khu công nghiệp; hình thành qũy đầu tư, qũy xúc tiến đầu tư vùng.

4. Nâng cao vai trò doanh nghiệp trong đầu tư phát triển hạ tầng và công nghiệp, dịch vụ: Trên cơ sở Nghị quyết Trung ương IV và V, TP Hồ Chí Minh các tỉnh trong vùng cần hình thành cơ chế đột phá thu hút đầu tư và quản trị hiện đại của tư nhân, nước ngoài vào hạ tầng (nhất là giao thông, các khu công nghiệp...), công nghiệp, dịch vụ.

Các vị đại biểu tham dự Diễn đàn.

5. Tăng cường liên kết phát triển đô thị trong vùng: Với mật độ đô thị cao, mật độ dân cư lớn, Vùng Đông Nam Bộ cần chủ động đề xuất Trung ương các cơ chế, chính sách phát triển chuỗi đô thị vùng với đột phá về tổ chức chính quyền đô thị hiện đại; các chính sách, tài chính, đầu tư có tính tự chủ cao hơn; tăng cường vai trò tư nhân trong cung ứng dịch vụ công.

6. Liên kết và lan tỏa: Vùng Đông Nam bộ, cần liên kết chặt chẽ với tây nguyên và Đồng bằng Sông Cửu Long và Nam Trung bộ trong phát triển các chuỗi nông nghiêp, công nghiệp và dịch vụ, dẫn dắt về công nghệ và hội nhập quốc tế.

"Những kiến nghị, đề xuất của Diễn đàn không chỉ có ý nghĩa thiết thực đối với việc phát triển kinh tế - xã hội của Đông Nam Bộ và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam mà còn góp phần quan trọng để hoàn thiện thể chế, đẩy mạnh liên kết và phát triển kinh tế - xã hội các vùng khác trong phạm vi cả nước". - ông Phát khẳng định.

Phát biểu khai mạc, TS Vũ Tiến Lộc - Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cho biết, trong những ngày qua một số hội nghị kinh tế từ Bắc Trung Nam, đều có chung từ khóa của các hội nghị này đều là “liên kết”. Bức tranh chung của liên kết vùng kinh tế là tính liên kết còn khá yếu. Đặc trưng chung là mạnh ai nấy làm, chưa hình thành được kết nối về chiến lược, quy hoạch, cơ sở hạ tầng, thể chế, nguồn nhân lực. Và có lẽ, cái trọng tâm nhất chính là thiếu kết nối của các doanh nghiệp.

Trong bức tranh chung kết nối kinh tế, liên kết vùng hay phạm vi cả nước, chúng ta hiểu về bản chất cuối cùng vẫn là sự kết nối của doanh nghiệp. Nếu ở đâu không thực hiện sự kết nối doanh nghiệp thành công là thực chất ở đó không có sự liên kết vùng. Các cơ quan chính quyền chỉ có thể tạo ra không gian kết nối, tạo ra cơ sở hạ tầng cần cho kết nối và xây dựng thể chế để thúc đẩy còn hành động kết nối cụ thể đó chính là hành động của doanh nghiệp. Khẳng định doanh nghiệp là động lực chính của sự phát triển, liên kết. 

TS Vũ Tiến Lộc - Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI)

TS Vũ Tiến Lộc - Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI)

Ông Lộc cho biết: "Trong Diễn đàn Kinh tế miền Trung, chúng tôi đã chỉ ra những lý do khiến sự liên kết yếu. Một là, toàn vùng kinh tế miền Trung hiện đang thiếu đầu tàu dẫn dắt sự phát triển; Hai là, thiếu động cơ, rất ít doanh nghiệp lớn có thểm làm động cơ cho cỗ máy. Ba là, yếu kém về hạ tầng; Bốn là, yếu về thể chế, thiếu sự phân công, điều phối, và thiếu cơ chế ràng buộc trách nhiệm và thiếu cơ chế thúc đẩy khuyến khích trong liên kết vùng".

Theo ông Lộc, nếu so sánh với các vùng kinh tế khác trong cả nước như miền Trung, Tây nguyên hay ĐBSCL thì vùng Đông Nam Bộ có lợi thế hơn hẳn. Cái mà các vùng kinh tế khác thiếu thì ở đây, khu vực chúng ta lại khá mạnh. Cụ thể, chúng ta có đầu tầu rất mạnh là TP HCM đã và đang là vùng kinh tế lớn của cả nước. Có nhiều doanh nghiệp, tập đoàn lớn đóng trụ sở tại TP HCM và bước đầu cũng đã có thể chế là có hội đồng của vùng kinh tế trọng điểm. Tuy nhiên, đối với vùng Đông Nam Bộ thì khái niệm này rộng hơn so với vùng kinh tế trọng điểm. Chính vì vậy, cho nên chúng ta sẽ phải bàn về cách vận hành của hội đồng này.

"Trong lịch sử, TP HCM đã đóng vai trò “anh hai” trong nền kinh tế của cả khu vực. TP HCM đã thực sự đóng vai trò dẫn dắt khá thành công khi có nhiều mô hình đột phá cho sự phát triển. Bình Dương cũng là ví dụ điển hình của việc xây dựng mô hình kinh tế thành công đối với một thành phố công nghiệp. Những mô hình cải cách dẫn đầu Việt Nam cũng đã hình thành ở khu vực ĐNB. Tôi nghĩ rằng sự sáng tạo trong cải cách, vai trò dẫn đầu… nó nằm trong máu thịt của chính quyền và người dân khu vực này.

Trong thời gian tới, TP HCM sẽ được đề xuất làm chủ tịch hội đồng vùng, sẽ đóng vai trò dẫn dắt và không có sự lựa chọn nào tốt hơn. TP HCM như là con sếu đầu đàn và các tỉnh thành khác sẽ là những con sếu trong đàn sếu đó. Chính sự phát triển của TP HCM sẽ tạo nên trung tâm lan tỏa trong khu vực. Theo tôi phương châm quan trọng trong phát triển kinh tế vùng chính là phương châm cùng thắng. Mà muốn cùng thắng thì phải xử lý được mối quan hệ giữa trung tâm và vệ tinh; Giữa việc hội tụ và lan tỏa trong sự phát triển của khu vực. TP HCM không chỉ khẳng định đầu tầu, trung tâm kinh tế của cả nước mà còn là đầu tầu cho cả khu vực Asean. Đó chính là sứ mệnh của cả miền ĐNB chúng ta". - ông Lộc nói.  

Ông Lộc nhấn mạnh: TP HCM cần nhìn và hướng ra biển lớn, trở thành trung tâm đầu tầu, động lực tăng trưởng cho cả khu vực. Với tầm nhìn như vậy thì sẽ lôi kéo được sự phát triển của các thành phố khác trong khu vực.

Về mô hình, tổ chức điều phối vùng thì hiện nay chúng ta có ba mô hình: Một là, mô hình có phân vùng kinh tế nhưng trên thực tế là không có hoạt động gì cả. Hai là, mô hình có một tổ chức kết nối như là ĐBSCL do Bộ KH&ĐT chủ chì. Ba là, mô hình hội đồng như ban chỉ đạo kinh tế duyên hải miền Trung. Thì mô hình hội đồng tự nguyện giữa các địa phương là mô hình thích hợp nhất.

"Theo quy định của hiến pháp, thì chỉ có thể hội đồng vùng tự nguyện kết nối giữa các địa phương. Khu vực này sẽ dẫn đầu trong phát triển kinh tế thị trường và cũng sẽ là nơi thử nghiệm các giải pháp phù hợp nhất, hiện đại nhất trong nền kinh tế. Chính vì vậy, chúng tôi hoàn toàn nhất trí với đề xuất của ban kinh tế thành lập hội đồng kinh tế vùng mà TP HCM đóng vai trò làm chủ tịch vùng". - ông Lộc nói.

Ông Lộc hy vọng rằng với những quyết sách mới, những đột phá của TP HCM đang muốn thực hiện sẽ giúp TP phát triển mạnh mẽ hơn nữa trong thời gian tới.

Ông Cao Đức Phát - Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng ban Thường trực Ban Kinh tế Trung ương cùng ông Vũ Tiến Lộc - Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam trao kỷ niệm chương Diễn đàn Kinh tế Đông Nam Bộ thường niên lần thứ 2 - 2017 đến đại diện lãnh đạo các tỉnh, thành ủy ban nhân dân tỉnh trong vùng.

Ông Cao Đức Phát - Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng ban Thường trực Ban Kinh tế Trung ương cùng ông Vũ Tiến Lộc - Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam trao kỷ niệm chương Diễn đàn Kinh tế Đông Nam Bộ thường niên lần thứ 2 - 2017 đến đại diện lãnh đạo các tỉnh, thành ủy ban nhân dân tỉnh trong vùng.

TÁI CƠ CẤU KINH TẾ - CHUYỂN ĐỔI MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG ĐÔNG NAM BỘ

Mở đầu phiên thảo luận thứ nhất, PGS-TS Trần Đình Thiên - Thành viên Tổ Tư vấn Kinh tế Thủ tướng Chính phủ, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam cho biết, trong số 6 vùng kinh tế, hay hẹp hơn, trong 4 vùng kinh tế trọng điểm của cả nước, vùng Đông Nam Bộ - Vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng.

Theo PGS.TS.Trần Đình Thiên, từ "đặc biệt" được dùng ở đây là hoàn toàn xứng đáng, bởi đây là vùng hội tụ đầy đủ hơn cả các điều kiện và lợi thế phát triển công nghiệp, dịch vụ, có vị thế là "trung tâm lớn nhất", "đi đầu" và đóng vai trò "dẫn dắt" phát triển kinh tế cả nước.

PGS-TS Trần Đình Thiên - Thành viên Tổ Tư vấn Kinh tế Thủ tướng Chính phủ, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam

PGS-TS Trần Đình Thiên - Thành viên Tổ Tư vấn Kinh tế Thủ tướng Chính phủ, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam

Cụ thể, vùng Đông Nam bộ sản xuất hơn 40% GDP cả nước, đóng góp 60% ngân sách nhà nước. Vai trò, vị thế vượt trội của Đông Nam bộ là rõ ràng. Hàm ý của nhận định (sự thừa nhận) này là: tạo cơ chế, chính sách hỗ trợ và thúc đẩy Đông Nam bộ tiến vượt là sự lựa chọn đúng đắn để giải quyết các vấn đề phát triển của cả nền kinh tế, nhất là trong điều kiện khó khăn hiện nay.

Tuy chưa xác lập đẳng cấp phát triển cao vượt bậc so với Vùng Kinh tế Trọng điểm Bắc Bộ, nhưng trình độ phát triển kinh tế của Vùng Đông Nam Bộ nhìn chung cao hơn cả nước ở hầu hết các ngành, các lĩnh vực (công nghiệp công nghệ cao, dịch vụ du lịch, viễn thông, tài chính, ngân hàng; nghiên cứu, ứng dụng và triển khai, đào tạo nhân lực).

Đông Nam Bộ là Trung tâm công nghiệp lớn nhất của cả nước. Một mạng lưới dày đặc các khu công nghiệp, tập trung tập trung ở "tứ giác" TP HCM, Bình Dương, Đồng Nai và Bà Rịa - Vùng Tàu, đang mở rộng ra Long An, Tiền Giang. Đây là vùng kinh tế có hệ thống cảng tốt và có hậu phương công nghiệp tốt.

Bên cạnh đó, vùng Kinh tế Đông Nam Bộ có "hạt nhân" là TP HCM. Là vùng có hệ thống kết cấu hạ tầng khá đồng bộ, tập trung các cơ sở đào tạo, nghiên cứu khoa học, trung tâm y tế; nguồn nhân lực dồi dào và có kỹ năng, do đó là địa bàn có môi trường đầu tư hấp dẫn. Trong Vùng đã hình thành mạng lưới đô thị vệ tinh, trong một không gian mở thông thoáng, liên kết với nhau thông qua các tuyến trục và vành đai đang được xây dựng. TP HCM - hạt nhân phát triển Vùng - là trung tâm đầu mối dịch vụ và thương mại tầm cỡ khu vực và quốc tế, đặc biệt là dịch vụ du lịch, dịch vụ tài chính, ngân hàng, viễn thông, dịch vụ cảng…

Vùng Đông Nam Bộ còn là "Trung tâm Hội nhập Quốc tế" lớn nhất nước với Cảng biển "Trung chuyển Quốc tế" Cái Mép - Thị Vải (đã định hình), Sân bay Quốc tế Tân Sơn Nhất và Cảng hàng không Trung chuyển quốc tế Long Thành (sẽ được xây dựng). Đây là điểm cần được đặc biệt lưu ý, nhất là trên quan điểm "hướng tới tương lai", trong bối cảnh nền kinh tế đang phải giải quyết những vấn đề "cốt tử" của công cuộc phát triển trong môi trường hội nhập trong giai đoạn tới.

Đông Nam Bộ là vùng kinh tế năng động, có sức hấp dẫn đầu tư mạnh nhất cả nước, dẫn đầu trong thu hút đầu tư nước ngoài. Các dự án ĐTNN đi tiên phong trong hầu hết các ngành, lĩnh vực ưu thế của vùng. Tính đến nay, Vùng chiếm khoảng 60% số dự án và gần 50% vốn FDI của cả nước. Kim ngạch xuất khẩu của vùng chiếm gần 60% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước.

Nhưng cho đến nay, tuy các tỉnh Đông Nam Bộ vẫn phát triển vượt lên so với cả nước, song vẫn còn thấp xa khả năng và mong muốn; vẫn là phát triển từng tỉnh, tầm nhìn "tỉnh ta" vẫn chi phối; chưa rõ tư duy phát triển Vùng, không có cơ chế, chính sách phát triển Vùng (hạ tầng, thể chế, cơ chế phát triển). Thiếu hệ thống liên kết phát triển Vùng được coi là một (trong những) cản trở phát triển lớn nhất hiện nay đối với Vùng Đông Nam Bộ.

Vì sao lại có tình trạng trên? Theo PGS.TS. Trần Đình Thiên, trong tiếp cận chiến lược, tư duy vùng còn chồng chéo, giao thoa các Vùng (8 tỉnh nhưng có 3 cách tổ hợp Vùng: Vùng Đông Nam Bộ: 6 tỉnh, Vùng Kinh tế Trọng điểm phía Nam: 8 tỉnh, Vùng TP. HCM: 8 tỉnh) nhưng không phân định rõ chức năng từng Vùng, không có cấu trúc thể chế hiệu lực đủ mạnh để vận hành hiệu quả.

Bên cạnh đó, tầm nhìn vùng còn không rõ chức năng, sứ mệnh, cấu trúc của Vùng Kinh tế Trọng điểm, chưa định vị rõ vai trò, chức năng, trách nhiệm - gắn với thể chế phù hợp - của Vùng Đông Nam bộ trong chiến lược phát triển quốc gia.

Đặc biệt, sự quan tâm đến phát triển Vùng chưa định hình thật rõ mục tiêu vì đầu tàu, dựa vào đầu tàu (hạt nhân Vùng), chưa có chính sách, cơ chế thực sự hỗ trợ thúc đẩy vai trò "hạt nhân, tiên phong, dẫn dắt" của TP HCM (không phải vì TP HCM). Tư duy phát triển quốc gia và phát triển Vùng vẫn bị chi phối bởi tư duy "dàn hàng ngang", "chia đều". Vùng Đông Nam Bộ cũng có cơ chế, chính sách vận hành giống như các Vùng khác trong cả nước.

PGS.TS. Trần Đình Thiên cũng cho rằng, cơ chế phân cấp, phân quyền vùng Đông Nam bộ hiện đang không hợp lý. TP. HCM - trung tâm phát triển vùng, dù có đủ thế và lực (nguồn lực, trình độ và vị thế liên kết), vẫn không thể tiến vượt lên, không thể lan tỏa phát triển. Bên cạnh đó, vẫn tồn tại tình trạng chia cắt, cục bộ địa phương - vùng: xung đột lợi ích, khó phối hợp, không liên kết.

Cũng theo PGS.TS. Trần Đình Thiên, việc phân bổ nguồn lực không đúng, chưa tương xứng vai trò, vị thế và lợi thế - năng lực: Cụ thể là chưa tập trung đúng mức (thỏa đáng) cho Vùng (hạ tầng kết nối quốc tế và Vùng), cho TP. HCM (tắc nghẽn); Không có cơ chế phân quyền, trao quyền phù hợp (quyền cơ chế, chính sách / quyền lập quy) cho các chủ thể địa phương, tạo chủ động để khuyến khích thu hút vốn đầu tư để giải tỏa các điểm tắc nghẽn và tạo nền tảng đầu tư; Cơ cấu kinh tế Vùng đang vật lộn với việc vượt qua đẳng cấp thấp. Công nghiệp, dịch vụ "cao hơn" cả nước nhưng còn xa mới định hình, khẳng định đẳng cấp công nghệ cao, sức cạnh tranh quốc tế thấp; Sự kết nối quốc tế của Đông Nam bộ chưa định hình về mặt cơ cấu (sản phẩm đặc trưng, thị trường chính, các tuyến liên kết).

Các vị đại biểu tham dự Diễn đàn.

Từ thực tế trên, PGS.TS. Trần Đình Thiên đưa ra đề xuất: Quy hoạch lại vùng trên một tầm nhìn mới. Trong đó, cần xác định lại cấu trúc Vùng của khu vực Đông Nam Bộ - Vùng Kinh tế Trọng điểm phía Nam và Vùng TP. HCM. Nên quy gọn để tránh phức tạp về cơ chế, chính sách; Đề cao tư duy phát triển vùng, đặt (quy hoạch, chiến lược) phát triển từng tỉnh trong tư duy phát triển Vùng, trên nền tảng và thống nhất với quy hoạch và chiến lược phát triển toàn vùng, gắn với vai trò "đầu tàu", "hạt nhân phát triển" Vùng của TP. HCM; Định hướng công nghệ cao (CMCN 4.0) và hội nhập - cạnh tranh phát triển toàn cầu.

PGS.TS. Trần Đình Thiên cũng cho rằng, trong quy hoạch này phải rõ: "Hạt nhân phát triển Vùng" nghĩa là gì - chức năng, cấu trúc, điều kiện bảo đảm? Vai trò chức năng, vị thế của các địa phương trong Vùng? Cơ chế phát triển Vùng: Cơ chế huy động và hội tụ sức mạnh cấp Vùng? Cơ chế liên kết - hội nhập phát triển nội Vùng, liên Vùng, tính chủ động của từng địa phương?

Bên cạnh đó, cần làm rõ việc quy hoạch do ai làm? Thực thi quy hoạch như thế nào? Nguồn lực bảo đảm nhà nước (vốn mồi)? Cơ chế giám sát thực thi? Thể chế điều hành Vùng? Đặc biệt, cần xác lập tầm nhìn, vượt thoát cấu trúc cũ.

Các nhiệm vụ chiến lược cấp Vùng phải thực hiện gồm: Quy hoạch, phân bố nguồn lực cấp Vùng (định hướng phân công ngành tổng quát để bảo đảm liên kết, phối hợp phát triển ngành và đô thị); Phát triển giao thông kết nối Vùng; Phát triển nguồn nhân lực; Phối hợp giải quyết vấn đề môi trường; Phân bổ nguồn lực (Phân cấp, phân quyền, ủy quyền cho Hội đồng Vùng và chính quyền Tỉnh. Quỹ Phát triển Kết cấu Hạ tầng Vùng).

Các vị diễn giả tại phiên thảo luận thứ nhất.

Các vị diễn giả tại phiên thảo luận thứ nhất.

Phiên thảo luận thứ nhất được điều hành bởi ông Võ Tân Thành - Phó Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam - Giám đốc Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam chi nhánh TP HCM. 

Ông Võ Tân Thành cho biết, tăng cường liên kết vùng để phát triển kinh tế vùng trong giai đoạn tới là định hướng đã được Chính phủ đặt ra. Các địa phương, các bộ, ban, ngành, các chuyên gia kinh tế đều nhận thức sự cần thiết phải phát triển kinh tế vùng ở Việt Nam. Tuy nhiên thực tế là liên kết vùng và phát triển kinh tế vùng ở nước ta còn rất yếu, hầu như chưa thực hiện được.

Trả lời câu hỏi của ông Võ Tân Thành: Quan điểm của các vị khách mời ngồi đây về khái niệm tái cơ cấu kinh tế và chuyển đổi mô hình tăng trưởng vùng. Tại sao phải tái cơ cấu? Tại sao phải chuyển đổi mô hình tăng trưởng vùng Đông Nam Bộ? Phải chăng vùng kinh tế hiện nay chưa tốt, mô hình chưa tăng trưởng chất lượng?, ông Lê Viết Thụy - Phó Vụ trưởng Vụ Quản lý Quy hoạch - Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho biết: Trong công tác quản lý quy hoạch, đối với vùng kinh tế trọng điểm phía Nam nói riêng và 04 vùng kinh tế của cả nước nói chung, cho thấy: sau khi Thủ tưởng Chính phủ phê duyệt quy hoạch cho các vùng kinh tế để thực hiện hiệu quả. Tuy nhiên sau 6 năm thực hiện, các vùng kinh tế trọng điểm vẫn chưa thể thực hiện được một cách nghiêm túc.

Xét về điều phối, vùng kinh tế trọng điểm phía Nam là một trong những vùng thực hiện hiệu quả và tốt nhất so với 3 vùng còn lại. Để phát triển tốt cho vùng kinh tế phía trọng điểm phía Nam, ông Lê Viết Thụy cho rằng, chúng ta phải làm cho tốt để cho các tổ chức các doanh nghiệp được tham gia trên cơ sở đó để quản lý tốt hơn.

 Ông Lê Viết Thụy - Phó Vụ trưởng Vụ Quản lý Quy hoạch - Bộ Kế hoạch và Đầu tư 

"Mặc dù mức đóng gớp GDP lên tới 60%, tuy nhiên vùng kinh tế Đông Nam Bộ vẫn chưa phát huy hết được các muc tiêu đề ra. Trong mục tiêu phát triển, các đơn vị vẫn chưa thực hiện được các mục tiêu mà chủ yếu là theo tính địa phương là thế mạnh của mình. Bên cạnh đó, Hội đồng của vùng không có sự quyết định, đặc biệt là hệ thống hạ tầng giao thông, hiện tại không thể thực hiện một cách đồng bộ. Mặc dù cơ chế chính sách của địa phương đã hỗ trợ cho doanh nghiệp nhưng vẫn chưa thể đồng bộ, thương hiệu sản phẩm chưa có giá trị cao để cạnh tranh trên thi trường". - ông Thụy nói.

Cũng theo ông Thụy, từ các kết quả trên cho thấy, công tác quy hoạch trong thời gian qua có rất nhiều chồng chéo, vì nhiều chương trình khác cùng quy hoạch, không có đầu mối quản lý. Đó chính là một trong các rào cản, mâu thuẫn ảnh hưởng cho sự phát triển của vùng. Vì vậy, vùng nên có sự thống nhất về quy hoạch chung, có đề nghị cụ thể để có tiếng nói chung, đồng nhất.

Ông Cao Tiến Dũng – Giám đốc Sở Kế hoạch đầu tư tỉnh Đồng Nai 

Có mặt tại phiên thảo luận, ông Cao Tiến Dũng – Giám đốc Sở Kế hoạch đầu tư tỉnh Đồng Nai cho biết, Đồng Nai là tỉnh phát triển công nghiệp chiếm cơ cấu GDP 58%, thương mại dịch vụ 37% còn lại là nông nghiệp. Phát triển công nghiệp trong thời gian qua tại đồng nai nhờ vào sự thuận lợi về địa kinh tế. Đồng Nai có vị trí giáp TP HCM và có nhiều điều kiện kết nối hạ tầng với khu vực. Đặc biệt là hạ tầng đường xá giao thông, hạ tầng khu công nghiệp được chuẩn bị đi trước 1 bước so với các tỉnh trong toàn vùng nên có những thuận lợi trong thu hút đầu tư nước ngoài. Tính tới nay, Đồng Nai đã thu hút được 26 tỷ USD vốn FDI và trung bình, cứ 1 năm thu hút 1- 2 tỷ USD từ các nhà đầu tư nước ngoài.

Chương trình tái cơ cấu kinh tế và chuyển đổi mô hình phát triển, tỉnh đồng nai chú trọng mấy việc lớn: Tăng sức cạnh tranh của nền kinh tế. Cụ thể là ở các doanh nghiệp của tỉnh sẽ có lợi thế cạnh tranh được với các doanh nghiệp của khu vực. Có những điều kiện cạnh tranh mạnh trong sản xuất hàng hóa tạo lợi nhuận tốt hơn so với các doanh nghiệp ở các khu vực khác.

Do vậy, sự hỗ trợ cho doanh nghiệp là hết sức quan trọng. Một là, là nguồn nhân lực; Hai là, cơ sở hạ tầng; Ba là, thủ tục hành chính; Bốn là, tạo điều kiện cho DN tiếp cận khoa học, công nghệ; Năm là, tạo cho DN tiếp cận cơ hội đầu tư.

"Một địa phương chắc chắn sẽ khó đáp ứng được cả 5 lợi thế đó. Ví dụ như: Nguồn nhân lực có những lĩnh vực phải thu hút từ TP HCM hoặc đưa nhân lực từ Đồng Nai lên TP HCM đào tạo... Rõ ràng, nhu cầu phát triển kinh tế của một địa phương gắn với liên kết vùng là hết sức cần thiết.

Chúng tôi quan tâm tới việc đầu tư vốn ngân sách phải thật sự hiệu quả. Vốn không có nhiều nên chỉ làm những công trình phục vụ trực tiếp cho kinh tế phát triển và làm vốn mồi để thu hút ngân sách đầu tư vào tỉnh". - ông Dũng nói.

Theo ông Dũng, vùng Đông Nam Bộ rất rộng lên tới 9 tỉnh, nên nếu xác định lại vùng nên xác định ở phạm vi hẹp tầm 4- 5 tỉnh có điều kiện kinh tế, xã hội tương đồng với nhau thì chúng ta sẽ làm được việc là dễ ngồi lại với nhau hơn để tập trung nguồn lực phát triển vùng nhỏ trước. sau khi vùng nhỏ làm tốt thì sẽ mở rộng ra. Chứ như hiện nay, qua thời gian vừa rồi, việc liên kết vùng nhỏ làm chưa tốt, khi thực hiện liên kết vùng lớn sẽ rất khó.

"Cần phải có tổ chứ lãnh đạo vùng có quyền hạn và tiềm lực thực sự cho việc phát triển vùng. Vấn đề này không nên cào bằng chúng ta phải tính toán quy mô phát triển của vùng trong từng giai đoạn để có nguồn lực thực sự. Và ưu tiên phát triển lợi thế từng tỉnh một để triển khai đầu tư đảm bảo hiệu quả của từng doanh nghiệp, tránh việc doanh nghiệp đầu tư vào những vùng không phát huy được thế mạnh sẽ gây thiệt thòi cho doanh nghiệp". - ông Dũng đề xuất. 

Ông Tomaso Andreatta - Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam - Chủ tịch Tiểu ban Tăng trưởng Xanh EuroCham

Tham gia phiên thảo luận này, ông Tomaso Andreatta - Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam - Chủ tịch Tiểu ban Tăng trưởng Xanh EuroCham cho rằng Việt Nam có rất nhiều điểm du lịch đẹp, nhưng Bộ Du lịch ở Việt Nam lại không có quỹ để cạnh tranh với các nước trong khu vực. Nếu như chỉ cần thu hút một vài USD từ một du khách thì chúng ta đã thêm đóng góp cho nền kinh tế nước nhà.

"Là một trong số ít hiệp hội doanh nghiệp tập trung vào khu vực hành lang tại Việt Nam, chúng tôi mong muốn tăng cường sự hiện diện của Hiệp hội Doanh nghiệp châu Âu  tại các tỉnh trong vùng Đông Nam Bộ ngoài TP HCM. Hy vọng các thảo luận trong Diễn đàn này sẽ được nghiên cứu cụ thể và được hiện thực hóa". - ông Tomaso Andreatta nói.

Ông Vũ Hữu Minh – Phó Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Đồng Nai cho biết, qua ý kiến và nhận định của các vị diễn giả cho thấy, vai trò của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam là rất quan trọng đóng góp GDP khá lớn nhưng sự quan tâm của Chính phủ về vùng này hiện nay như thế nào thì chưa rõ ràng, cụ thể?

Ông Minh cho rằng, cần xem lại trách nhiệm của các bộ, ngành như thế nào, vì trên thực tế vùng vẫn không có động lực nào, chưa có cơ chế nào để phát triển. Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam là đầu tàu, cho nên cần có sự thay đổi về Hội đồng vùng để liên kết tốt hơn. Hội đồng vùng phải được quyết định của hiến pháp một cách ro rang mới có thể điều phối tốt được .

QUY HOẠCH HẠ TẦNG GIAO THÔNG, NỀN LIÊN KẾT VÙNG 

Các vị diễn giả tại phiên thảo luận thứ hai.

Phiên thảo luận thứ hai do TS Vũ Trọng Bình – Vụ trưởng Vụ Kinh tế Địa phương - Ban Kinh tế Trung ương - điều phối phiên thảo luận. Ông Bình khẳng định: Đông Nam Bộ phát triển không chỉ nhờ vùng này mà còn nhờ nhiều vùng kinh tế khác. Vậy để thế nào để phát triển hạ tầng vùng kinh tế Đông Nam Bộ? Doanh nghiệp có kế sách gì để tham gia vào khai thác cơ sở hạ tầng vùng Đông Nam Bộ?

TS Vũ Trọng Bình – Vụ trưởng Vụ Kinh tế Địa phương - Ban Kinh tế Trung ương

Ông Nguyễn Duy Minh - Tổng thư ký Hiệp hội Logistic Việt Nam, Chủ tịch kiêm TGĐ CTCP Giao nhận Quốc tế Intelog cho biết, vùng Kinh tế Đông Nam Bộ là động lực chính và quan trọng nhất của nền kinh tế Việt Nam. Vùng kinh tế Đông Nam Bộ sở hữu cụm Cảng Số 5 bao gồm Cảng TP.HCM và Cảng nước sâu. Cái Mép Thị Vải đóng vai trò cửa ngõ giao thương số 1 của quốc gia và hiện tại đang cần sự phối hợp của TP.HCM, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu để chuyển đổi hành vi giao nhận xuất nhập khẩu của chủ hàng xuất nhập khẩu cùng các nhà cung cấp dịch vụ logistics sao cho hài hòa luồng hàng xuất nhập khẩu, chia sẻ bớt cho CMTV bằng đường bộ (phạm vi từ Đồng Nai đổ về Bà Rịa - Vũng Tàu là trước hết) để chia sẻ bớt gánh nặng cho Cảng Cát Lái.

Ông Nguyễn Duy Minh - Tổng thư ký Hiệp hội Logistic Việt Nam, Chủ tịch kiêm TGĐ CTCP Giao nhận Quốc tế Intelog

Việc phân phố hài hòa lượng hàng hóa xuất nhập khẩu giữa CMTV và Cảng Cát Lái – Hệ thống ICD tại TP HCM được phân bổ hài hòa việc lưu thông cho cả đường thủy và đường bộ sẽ góp phần làm giảm chi phí logistics, tăng nhanh thời gian giao hàng, phát huy hiệu quả của các Cảng và ICD, tăng sự hài lòng của các nhà sản xuất.

Cũng theo ông Minh, vùng kinh tế Đông Nam Bộ đã và đang hình thành các dòng hàng hóa lớn như những mạch máu chính của nên kinh tế kết nối các cửa ngõ quốc tế như Sân bay Tân Sơn Nhất, Cảng Cát Lái, Cụm Cảng CMTV. Đó là luồng hàng từ Cao Nguyên – TP HCM, luồng hàng Phnompenh nối HCM qua Tây Ninh, luồng hàng hóa của Tam giác động lực TP HCM – Bình Dương – Đồng Nai. Vùng kinh tế Đông Nam Bộ còn là cửa ngõ tiếp/trao đổi nhận luồng hàng hóa từ Tây Nam Bộ cũng như từ miền Bắc và miền Trung.

Ở vai trò là Tổng Thư ký VLA, ông Nguyễn Duy Minh cho rằng, không chỉ sự kết nối về hạ tầng giao thông vùng mà là sự kết nối về quy hoạch hạ tầng logistics của cả vùng trong đó quy hoạch về các Trung Tâm logistics theo QĐ 1012 là rất quan trọng xét đến yếu tố hiệu quả logistics cho vùng để thu hút đầu tư và phát triển sản xuất - thương mại.

“Chính vì vị trí trung tâm điều phối về logistics của vùng như vậy nên rất cần 1 cơ quan Nhạc trưởng Vùng để có 1 quy hoạch tổng thể về hạ tầng giao thông vận tải, quy hoạch về hạ tầng logistics (Cảng, Cảng Cạn, Trung tâm logistics, trung tâm logistics hàng không, Depot trung tâm). Công tác quy hoạch càng thống nhất và nhất quá sẽ tối giảm những lưu thông chồng chéo lãng phí và tăng hiệu quả chi phí logistics”. – ông Minh nhìn nhận.

Cũng theo Tổng Thư ký VLA, vùng kinh tế Đông Nam Bộ có 1 lợi thế lớn khác là hầu hết các công ty cung cấp dịch vụ logistics hàng đầu Việt Nam đều đặt trụ sở tại TP HCM và hầu hết các Trường đại học có bộ môn đào tạo về logistics, các cơ sở đào tạo nghề về logistics đều đặt tại TP HCM. Chính vì thế Vùng kinh tế Đông Nam Bộ xứng đáng để Chính phủ quan tâm trọng điểm và hỗ trợ các chính sách ưu tiên để biến Vùng có khả năng cạnh tranh quốc tế.

>> Mời độc giả xem nội dung tường thuật tiếp theo TẠI ĐÂY