Theo báo cáo, để đáp ứng các thủ tục về quản lý chuyên ngành, các danh nghiệp phải bỏ ra khoảng 28,6 triệu ngày công và khoảng 14,3 nghìn tỉ đồng mỗi năm. Số lượng hàng hoá thuộc diện kiểm tra chuyên ngành vào khoảng 100.000 mặt hàng.

p/Hải quan Long An kiểm tra thực tế một lô hàng nhập khẩu. Ảnh: Tuấn Nguyễn

Hải quan Long An kiểm tra thực tế một lô hàng nhập khẩu. Ảnh: Tuấn Nguyễn

Giảm tỉ lệ kiểm tra lô hàng xuống còn 15%

DN phải gánh chi phí rất lớn về kiểm tra chuyên ngành với hàng hóa xuất nhập khẩu. Hiện tỷ lệ lô hàng phải kiểm tra chuyên ngành lên tới 35% nhưng tỷ lệ sai phạm chỉ là 0,06%. Có bộ đã ban hành danh mục kiểm tra chuyên ngành nhưng không có quy định tiêu chuẩn và điều kiện kiểm tra, có nghĩa là bộ muốn kiểm tra gì cũng được.

Mục tiêu đặt ra là phải kéo giảm tỷ lệ lô hàng phải kiểm tra chuyên ngành xuống còn 15%. Nếu kéo giảm tỉ lệ lô hàng xuống còn 15%, các chuyên gia ước tính có thể giảm được hàng chục nghìn tỷ chi phí cho DN.

Để giảm bớt khó khăn cho DN, CIEM kiến nghị cắt giảm danh mục mặt hàng phải thực hiện kiểm tra chuyên ngành. Bởi theo tính toán của CIEM, nếu cắt giảm 30% danh mục sẽ tiết kiệm được khoảng 8,6 triệu ngày công và khoảng 4,3 nghìn tỉ đồng; nếu cắt giảm 50% danh mục sẽ tiết kiệm được khoảng 14,3 triệu ngày công và khoảng 7,1 nghìn tỉ đồng.

Xóa danh giới “mặt hàng khác”

Viện Nghiên cứu và Quản lí kinh tế Trung ương (CIEM) cho rằng, đối với hàng hoá phải kiểm tra chuyên ngành, nhiều mặt hàng có tên “mặt hàng khác” làm DN không thể lường hết khi làm thủ tục.

"Mặt hàng có tên là “mặt hàng khác” khiến DN không thể xác định được đó là mặt hàng gì, có phải kiểm tra chuyên ngành không, nếu phải kiểm tra chuyên ngành thì làm thủ tục như thế nào?”, Luật sư Trần Minh Hùng - Đoàn luật sư TP HCM chia sẻ. Đồng tình, Luật sư Kiều Anh Vũ, Cty Luật KAV Lawyers cho biết, việc kiểm tra chuyên ngành với nhiều mặt hàng và hình thức khác nhau đang gây ra nhiều chi phí tốn kém về thời gian và tiền bạc cho DN. “Mỗi hình thức kiểm tra chuyên ngành sẽ sinh ra các thủ tục hành chính và “giấy phép con”, làm cho thủ tục hành chính thêm rườm rà và “ma trận giấy phép con” thêm phức tạp”, ông Vũ cho biết.

DN thủy sản kiến nghị tháo gỡ vướng mắc nộp thuế phế liệu, phế phẩm

Theo thông tin từ Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP), từ phản ánh của các DN, VASEP vừa có Công văn số 108 gửi Tổng cục Hải quan kiến nghị tháo gỡ vướng mắc trong nộp thuế phế liệu, phế phẩm, vật tư dư thừa đã nhập khẩu để gia công xuất khẩu. Theo phản ánh của các DN, tại Khoản 4 Điều 10 Nghị định 134/2016/NĐ-CP quy định: “Phế liệu, phế phẩm và nguyên liệu, vật tư dư thừa đã nhập khẩu để gia công không quá 3% tổng lượng của từng nguyên liệu, vật tư thực nhập khẩu theo hợp đồng gia công được miễn thuế nhập khẩu khi tiêu thụ nội địa, nhưng phải kê khai nộp thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế bảo vệ môi trường (nếu có) cho cơ quan Hải quan”.

Tuy nhiên, theo Công văn 2767 ngày 26/7/2017 của Cục Thuế XNK – Tổng cục Hải quan hướng dẫn về phế liệu, phế phẩm của hợp đồng gia công đề cập: “Phế liệu, phế phẩm và nguyên liệu, vật tư dư thừa đã nhập khẩu để gia công không quá 3% tổng lượng của từng nguyên liệu, vật tư thực nhập khẩu theo hợp đồng gia công được miễn thuế nhập khẩu khi tiêu thụ nội địa”. Trong thực tế, đối với ngành Thủy sản, khi nhập nguyên liệu thủy sản về để chế biến, thì lượng phế liệu, phế phẩm luôn luôn chiếm từ 20% đến 50% tổng lượng nguyên liệu nhập khẩu (tùy mặt hàng). Do vậy, quy định tỷ lệ 3% là không phù hợp với thực tiễn.

P.v